21/05/2026 - 16:20

Khi nào "Sức mạnh Siberia 2" khởi công? 

Một trong những nội dung đáng chú ý trong chương trình nghị sự tại hội nghị thượng đỉnh Nga - Trung Quốc mới đây giữa Tổng thống Vladimir Putin và Chủ tịch Tập Cận Bình là dự án đường ống khí đốt “Sức mạnh Siberia 2 (POS-2)” vốn bị trì hoãn nhiều năm.

Biều đồ 2 đường ống khí đốt POS 1 và 2.  Ảnh: AP

Đồng thuận về cách xây dựng 

Sau cuộc gặp giữa lãnh đạo 2 nước hôm 20-4, người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov nói với truyền thông Nga rằng hai bên đã thống nhất về các thông số chính cho POS-2. “Đã có sự đồng thuận về cách xây dựng dự án nhưng một số chi tiết vẫn cần được hoàn thiện” - ông Peskov cho biết. 

POS-2 sẽ trải dài khoảng 2.600km từ bán đảo Yamal thuộc vùng Tây Bắc Siberia của Nga, xuyên qua Mông Cổ và kết thúc ở miền Bắc Trung Quốc. Đường ống dẫn khí này được định giá lên tới 13,6 tỉ USD và được thiết kế để vận chuyển 50 tỉ mét khối khí đốt tự nhiên mỗi năm trong vòng 30 năm. Khi đi vào vận hành, nó có thể chuyển hướng khoảng 30% lượng khí đốt xuất khẩu của Nga, vốn lẽ ra sẽ chảy sang châu Âu.

Như vậy, POS-2 sẽ lớn gần bằng Dòng chảy phương Bắc (North Stream) 1, một trong những tuyến đường xuất khẩu khí đốt quan trọng nhất của Nga sang châu Âu với công suất thiết kế 55 tỉ mét khối/năm.

Giới phân tích cho rằng đối với Nga, POS-2 sẽ cung cấp thị trường quan trọng mới cho khí đốt của xứ sở bạch dương và giúp Gazprom, nhà sản xuất khí đốt lớn nhất thế giới, thu hồi một phần doanh thu đã mất kể từ khi Nga phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine hồi tháng 2-2022.

Theo Jack Sharples, chuyên gia tại Viện Nghiên cứu Năng lượng Oxford, POS-2 không chỉ giúp Gazprom “hốt bạc” từ bán khí đốt mà còn tạo ra “hiệu ứng kinh tế đối với các công ty xây dựng đường ống dẫn khí cũng như các nhà sản xuất ống thép của Nga”.

Còn đối với Trung Quốc, POS-2 là triển vọng hấp dẫn về mặt chiến lược trong bối cảnh Bắc Kinh tìm cách đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và giảm sự phụ thuộc vào khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhập khẩu vốn phải được vận chuyển qua các điểm nghẽn chiến lược, chẳng hạn như eo biển Hormuz và eo biển Malacca, và phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu phức tạp liên quan đến nhiều nhà cung cấp, tuyến đường vận chuyển và cảng tiếp nhận. Chính những yếu tố này khiến việc nhập khẩu LNG của Trung Quốc dễ bị tổn thương hơn trước những gián đoạn địa chính trị cũng như biến động giá cả so với nhập khẩu khí đốt qua đường ống.

Còn nhiều trở ngại

Dù vậy, giới phân tích cho rằng vẫn còn nhiều trở ngại trước khi dự án trở thành hiện thực. POS-2 khả thi về mặt hậu cần, bởi Gazprom có nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng các đường ống dẫn khí công suất lớn, đường dài qua địa hình hiểm trở. Tuy nhiên, POS-2 sẽ mất nhiều năm để hoàn thành.

POS-1, đường ống đầu tiên vận chuyển khí đốt từ 2 mỏ ở phía Đông Siberia đến biên giới Nga - Trung Quốc, được xây dựng sau một thỏa thuận hồi năm 2014 nhưng đến năm 2019 mới bắt đầu hoạt động và tới năm 2024 mới đạt công suất tối đa. Chuyên gia Sharples cho rằng dù ngắn hơn POS-1 một chút nhưng thời gian xây dựng POS-2 “không chắc” sẽ ngắn hơn. “Dự án có thể mất một thập niên từ khi bắt đầu xây dựng cho đến khi đạt công suất tối đa” - ông Sharples nhận định.

Trong khi đó, Aleksei Chigadaev, chuyên gia nghiên cứu tại Trung tâm Chiến lược Á - Âu mới cho rằng trước khi POS-2 có thể chính thức khởi động, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, gồm việc xác định tỉ lệ tham gia của Gazprom và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC) trong dự án. Các bên cũng vẫn phải làm rõ ai sẽ chi trả chi phí xây dựng và giá khí đốt được vận chuyển qua POS-2 sẽ được xác định như thế nào.

Được biết, Trung Quốc muốn mức giá khí đốt của đường ống mới tương đương giá khí đốt nội địa Nga, dao động khoảng 120-130USD/1.000 mét khối, trong khi Nga mong muốn mức giá gần với POS-1, vốn theo ước tính của các nhà phân tích là gấp đôi con số đó.

Chưa kể, cả Trung Quốc và Nga đều có những dè dặt đằng sau sự thống nhất giữa đôi bên, bởi đối với Mát-xcơ-va, POS-2 ràng buộc nước này phải cung cấp lượng lớn khí đốt cho một khách hàng duy nhất, trong khi đối với Bắc Kinh, dự án làm tăng thị phần của Nga trong tổng nguồn cung khí đốt của quốc gia Đông Á này.

TRÍ VĂN (Tổng hợp)

Chia sẻ bài viết