02/08/2026 - 10:48

Tạo đột phá từ văn hóa, con người và đổi mới sáng tạo 

Để đạt mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng dữ liệu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ...

Sự dịch chuyển các bảo tàng từ những “kho lưu trữ tĩnh” thành “không gian trải nghiệm sống động,” đóng vai trò động lực cho công nghiệp văn hóa. (Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN)

Sau 6 tháng triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, nhiều chuyển động tích cực đã và đang diễn ra từ Trung ương đến địa phương, cho thấy quyết tâm đưa văn hóa từ nguồn lực tiềm năng trở thành động lực phát triển thực sự của đất nước.

Lấp khoảng trống, khai mở sức mạnh di sản

Thời gian qua, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ khoảng cách giữa chủ trương và kết quả thực tiễn vẫn còn lớn, đồng thời lần đầu tiên nhận diện bốn khoảng trống cần tập trung khắc phục, gồm: sức hấp dẫn của giá trị Việt Nam trên môi trường số; chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức và tài sản trí tuệ; năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh; cùng thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Cùng với đó, ba chuyển dịch lớn được xác định là: chuyển từ coi văn hóa là một lĩnh vực sang một trụ cột phát triển; phát triển văn hóa đồng thời trong không gian thực và không gian số; kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và sáng tạo để hình thành tri thức, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.

Theo các chuyên gia, dữ liệu di sản hiện vẫn còn phân tán, thiếu chuẩn hóa, thiếu liên thông và chưa có cơ chế khai thác hiệu quả.

Để đạt mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng dữ liệu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hoàn thiện chính sách đầu tư và tăng cường kết nối giữa văn hóa với công nghệ, doanh nghiệp, giáo dục và thị trường. Khi đó, di sản sẽ thực sự trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm của Việt Nam.

Mộc bản chùa Bổ Đà, tỉnh Bắc Ninh được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2017. (Ảnh: Thanh Thương/TTXVN)

Việt Nam hiện sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Đây là nguồn vốn văn hóa đặc biệt quý giá mà không nhiều quốc gia có được.

Tuy nhiên, phần lớn kho tàng di sản vẫn đang tồn tại dưới dạng "tài nguyên ngủ quên," chưa được số hóa đồng bộ, chuẩn hóa dữ liệu, liên thông thành hệ thống dữ liệu quốc gia và càng chưa được khai thác hiệu quả dưới góc độ tài sản trí tuệ.

Khơi dậy sức mạnh con người từ hệ giá trị văn hóa

Nếu di sản là nguồn lực của quá khứ thì con người chính là chủ thể sáng tạo và phát huy giá trị văn hóa trong hiện tại và tương lai. Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy việc phát huy sức mạnh con người đang trở thành nền tảng quan trọng để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển văn hóa.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, con người luôn giữ vị trí trung tâm của sự phát triển, là cội nguồn của mọi giá trị văn hóa và cũng là động lực quan trọng nhất để phát huy bản sắc, khơi dậy sức mạnh nội sinh, hướng tới phát triển nhanh, bền vững và hội nhập.

Những nét đẹp trong lối sống, ngôn ngữ và hành động đã góp phần định hình bản sắc văn hóa của Thành phố, được bồi đắp và kiểm chứng qua suốt chiều dài lịch sử khai phá, xây dựng và phát triển.

Là vùng đất hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa, Thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành nên bản sắc con người với những giá trị nổi bật như hào sảng, nghĩa tình, bao dung, cởi mở, năng động, sáng tạo và tiên phong.

Khu vực chợ Bến Thành - Lê Lợi. (Ảnh: Mỹ Phương/TTXVN)

Được hun đúc qua nhiều thế hệ, những phẩm chất ấy không chỉ tạo nên sức sống của Thành phố mà còn trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững.

Theo các chuyên gia, con người vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa, vừa là trung tâm của mọi chiến lược phát triển. Vì vậy, việc xây dựng hệ giá trị con người Thành phố Hồ Chí Minh cần gắn với hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị gia đình Việt Nam, đồng thời đưa những giá trị đó thấm sâu vào đời sống xã hội.

Bên cạnh đó, cần xây dựng văn hóa ứng xử văn minh, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, phát huy truyền thống nghĩa tình, nhân ái và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đây là nền tảng để Thành phố Hồ Chí Minh vừa giữ gìn bản sắc riêng, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy sức mạnh văn hóa và con người trong tiến trình hội nhập và phát triển.

Bà Phạm Phương Thảo, nguyên Phó Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch HĐND Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng một trong những nét tính cách tiêu biểu của người Sài Gòn là tính mở. Theo bà, "tính mở - sự cởi mở, bao dung và nghĩa tình được thể hiện rõ trong việc đón nhận các luồng dân cư đến sinh sống, tiếp thu những tư tưởng tiến bộ và cái mới; không câu nệ hình thức, không quá coi trọng địa vị hay giai tầng, không kỳ thị sự khác biệt về chính kiến, tôn giáo, ít bị ràng buộc bởi những nghi thức rườm rà, đồng thời luôn giàu lòng nhân ái, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau."

Lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống để tạo động lực phát triển

Không chỉ phát huy sức mạnh con người, nhiều địa phương còn tìm cách đánh thức các giá trị văn hóa truyền thống để tạo động lực phát triển kinh tế và du lịch. Nghệ An là một trong những địa phương có nhiều cách làm sáng tạo theo hướng này.

Những chợ phiên vùng cao, biên giới nổi tiếng như Mường Quạ (xã Môn Sơn), Mường Chon (xã Bình Chuẩn), Tri Lễ (xã Tri Lễ), Nga My (xã Nga My), Nhôn Mai (xã Nhôn Mai)... không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là không gian văn hóa đặc sắc, lưu giữ phong tục, tập quán và bản sắc của các dân tộc Thái, Đan Lai, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu...

Chợ phiên vùng cao với các sản vật đặc trưng địa phương thu hút đông người dân và du khách đến mua sắm và vui chơi. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, việc khôi phục và phát huy giá trị chợ phiên đang góp phần kết nối cộng đồng, mở ra hướng phát triển hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển du lịch, đồng thời tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Trong tâm thức đồng bào vùng cao, chợ phiên là "điểm hẹn" của cộng đồng. Nơi đây hội tụ nhiều sản vật phong phú của núi rừng, không chỉ có giá trị sử dụng mà còn chứa đựng những câu chuyện văn hóa, phản ánh dấu ấn lao động cần cù, tập quán sản xuất và tri thức bản địa được truyền từ đời này sang đời khác.

Các địa phương xác định việc khôi phục, duy trì chợ phiên là hướng đi quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế hộ gia đình, tạo nền tảng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, đồng thời góp phần gắn kết cộng đồng và hồi sinh văn hóa vùng cao.

Bên cạnh đó, giữa nhịp sống hiện đại, chợ Ngò (xã Quỳnh Phú, tỉnh Nghệ An) vẫn lưu giữ món bánh khoái dân dã mang đậm hương vị biển. Từ gạo quê, cá biển tươi, rau nhót đặc sản cùng bàn tay khéo léo của người dân địa phương, món ăn đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng của vùng biển xứ Nghệ.

Điểm đặc sắc của bánh khoái chợ Ngò là được thưởng thức cùng cá biển nướng, nộm rau nhót, nem rán và nước chấm đậm đà, tạo nên hương vị riêng khó nơi nào có được. Qua nhiều thế hệ, nghề làm bánh vẫn được các gia đình gìn giữ như một phần ký ức quê hương.

Những năm gần đây, món ăn ngày càng thu hút du khách nhờ hương vị mộc mạc, giá cả bình dân và không gian chợ quê đậm bản sắc. Giữa dòng chảy hiện đại, bánh khoái chợ Ngò không chỉ là món ăn dân dã mà còn là "hồn quê" của vùng biển Quỳnh Phú, góp phần gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa ẩm thực xứ Nghệ.

Kết nối không gian di sản với phát triển du lịch xanh

Cùng với Nghệ An, Tây Ninh cũng đang khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa và thiên nhiên nhằm hình thành những mô hình phát triển bền vững gắn với du lịch xanh.

Đề án phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí tại các khu rừng do Ban Quản lý các Khu di tích lịch sử cách mạng miền Nam quản lý đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 được kỳ vọng sẽ kết nối hệ sinh thái rừng với các di tích lịch sử cách mạng, tạo động lực đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời gìn giữ các giá trị văn hóa, lịch sử và tài nguyên thiên nhiên.

Cổng bên đình Hiệp Ninh mang nét kiến trúc truyền thống, dẫn vào không gian di tích hơn một thế kỷ tuổi giữa lòng phường Tân Ninh, tỉnh Tây Ninh. (Ảnh: Giang Phương/TTXVN)

Mục tiêu xuyên suốt của Tây Ninh là khai thác hiệu quả lợi thế về hệ sinh thái tự nhiên, vị trí địa lý và hệ thống di tích lịch sử để hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng, hiện đại; nâng cao chuỗi giá trị ngành du lịch; tăng tỷ trọng đóng góp vào GRDP và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

Định hướng này cũng góp phần thực hiện mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2030 theo Kế hoạch số 1308/KH-UBND ngày 27/3/2026 của UBND tỉnh.

Cùng với phát triển du lịch, tỉnh chú trọng bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử-văn hóa, gìn giữ cảnh quan thiên nhiên để tạo nên bản sắc riêng của du lịch Tây Ninh, hướng tới phát triển du lịch xanh, sinh thái và bền vững.

Điểm nhấn của đề án là phát huy giá trị các khu di tích lịch sử cách mạng thông qua việc kết nối với các điểm đến du lịch trọng điểm của tỉnh và khu vực, qua đó vừa bảo tồn di sản, vừa tạo động lực phát triển kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển văn hóa gắn với tăng trưởng bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW.

Những kết quả bước đầu cho thấy Nghị quyết số 80-NQ/TW đang từng bước đi vào cuộc sống, mở ra tư duy phát triển mới, trong đó văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực quan trọng để đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Theo Nguyễn Trọng Lịch (TTXVN/Vietnam+)

Chia sẻ bài viết