13/09/2026 - 07:55

Chuyện đào kinh hơn trăm năm trước 

Nhân dịp Kinh xáng Xà No tròn 125 năm tuổi kể từ buổi được khởi đào, xin được kể cùng quý độc giả vài mẩu chuyện nhỏ như cách “ôn cố tri tân”. Công bằng mà nói, nhờ hệ thống kinh đào này mà giao thông đường thủy phát triển, nhiều vùng đất đồng bằng châu thổ Cửu Long trở thành vựa lúa, vựa trái cây lớn nhứt nước về sau.

 Kinh xáng Xà No. Ảnh: Tấn Mong

Công cuộc đào kinh

Nhiều tài liệu chép rằng, công cuộc đào kinh nhằm thúc đẩy việc khai khẩn vùng đất Cần Thơ và Sóc Trăng diễn ra từ năm 1890 đến 1920. Chỉ trong vòng 30 năm, có hơn 350km kinh được đào mới.

Trong hồi ký “Ăn cơm mới nói chuyện cũ: Hậu Giang - Ba Thắc: Di cảo”, nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển kể chuyện con kinh Vĩnh Phú được đào nhằm dẫn nước ngọt từ kinh Phụng Hiệp vô Rạch Giá vào trước năm 1920, có đoạn: “Đây là dịp cho dân xáng, từ “cặp-rằng” - tức người cai quản tá điền, công nhân thời xưa, cho tới Tây coi xáng làm tiền. Chỗ nào sâu, trông mong cho nó đổ đất cho vun lên để thành ruộng thì nó nhóng tiền, không đổ đất. Trái lại, nhè chỗ xóm đông đảo dân cư tấp nập, nó lại tra máng đổ cho bùn ngập nhà ngập phố, và vạn sự chỉ ư tiền. Muốn êm thì nhét vào tay nó vài tờ con voi (tức giấy 100 bạc xưa), hoặc biết nó thích rượu thì dâng cho nó được vừa ý…”. Rõ là, cuộc đào kinh đã tạo thêm cơ hội cho một số quan viên người Pháp và sai “ăn hối lộ”, bòn rút của dân.

Trong khi đó, 4 chiếc xáng cũng kéo tới Sóc Xà No, mở con kinh nối liền rạch Cần Thơ qua sông Cái Lớn. Nhà thầu sử dụng loại xáng lớn chạy bằng hơi nước. Mỗi chiếc mạnh 350 mã lực, mỗi gàu sắt có thể múc được 375 lít, có thể thổi bùn ra xa 60 thước, đào sâu tới hai thước rưỡi tới 9 thước. Cũng xin nói thêm về tên gọi ngồ ngộ của dòng kinh này. Truyền thuyết xưa có con mãng xà khổng lồ sau khi nuốt chửng một con nai thì no tới mức trườn đi không nổi nên người dân sợ hãi mà gọi Xà No. Cách lý giải khác gắn với cách gọi Xà No trong tiếng Khmer tức là xóm có cây điên điển, một loại cây thủy sinh quen sống nơi bờ bãi, trổ bông vàng rộ vào mùa nước nổi miền Tây.

Trở lại chuyện chiếc xáng, thấy hình vóc kỳ dị và lạ lẫm, người dân rất mừng nhưng cũng có phần kinh hãi. Câu “Nhứt điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng” bấy lâu truyền tụng chưa ai thấy… Giờ đây, mấy chiếc xáng “la” (tiếng Pháp là loire) hay xáng “năn” (tiếng Pháp là nantes), rõ ràng là những con “quái vật” bằng sắt khổng lồ. Sinh thời, nhà văn Sơn Nam có lần trực tiếp kể trong một bộ phim tài liệu về sự ra đời của Kinh xáng Xà No rằng: “Nói không phải quá đáng, một chiếc xáng nó đi giống như một chiến hạm bây giờ. Nồi hơi nước phải nấu bằng củi, thì củi hai bên bờ có sẵn. Đi tới đâu thì nó đo kỹ rồi quy định điểm này điểm kia bao nhiêu mét thước, bao nhiêu thước khối củi, rồi chạy ngừng ngang đó thảy củi lên. Kỹ thuật viên của nó thì phải cỡ 30 thằng Tây, thợ máy. Còn Việt Nam mình coi như là lao động đơn thuần”.

Trong biên khảo “Lịch sử khẩn hoang miền Nam”, cố nhà văn còn chú giải thêm rằng, vì quan niệm chiếc xáng là một sinh vật nên người thuở ấy đồn đãi rằng, gọi “xáng la” vì nó… la hét (do tiếng ồn phát ra quá lớn)! Lại cũng có chuyện khôi hài xảy ra khi một số người dân chạy theo xáng, lấy thúng mà hứng bùn sình để…  tìm vàng. Nhưng vàng đâu hổng thấy, chỉ thấy xương người, xương thú.

Ký ức “củ co” ở Bảy Ngàn…

Nói nôm na, Kinh xáng Xà No là “xương sống”. Còn “xương sườn” là những con kinh ngang, cách nhau chừng 1.000 thước, do dân phu và tá điền đào, đặt tên tuần tự Một Ngàn, Hai Ngàn dần chạy tới Mười Bốn Ngàn. Và vào buổi đầu của những con kinh ngang, dọc, lưu lại nhiều câu chuyện không mấy người còn nhớ.

Lúc ấy, Kinh Bảy Ngàn vừa khởi đào xong đã hại không biết bao nhiêu điền chủ Cần Thơ có, mà ở các tỉnh khác lại đây lập nghiệp cũng có… “Tính coi, chẳng là đất trũng, nước phèn ứ động nhiều đời, nay con kinh xổ ra chưa hết, đất chưa sạch phèn, cho nên cấy lúa bao nhiêu đều tim lụn hết, báo hại chủ điền hết vốn không gạo nấu cơm, gia đình phải đào đất kiếm rễ cây đỡ dạ…” (trích “Ăn cơm mới nói chuyện cũ: Hậu Giang - Ba Thắc: Di cảo”). Vậy nên về sau mới có câu rằng:

“Hỏi anh còn nhớ Bảy Ngàn?

Củ co lại với củ bàng thế cơm?”

Về “củ co” trong câu hát huê tình này, lão nông Lư Văn Út ở Thị trấn Bảy Ngàn cũ, nay là xã Tân Hòa, TP Cần Thơ giải thích: “Co” là tên loài cây vốn mọc hoang. Cọng nhỏ hơn đầu mút đũa. Lá bằng cỡ miệng chén, nhỏ hơn bông súng, tròn, màu xanh nhạt ửng hồng, nổi trên mặt nước đồng bưng. Khi nước giựt gần cạn đồng, bà con mình thò tay móc sâu xuống dưới rễ của nó kéo lên những chùm củ bằng ngón chưn cái, da đen, xù xì. Củ co nấu chín, lột vỏ, lộ ra lớp thịt màu vàng sậm, ăn bùi bùi, giúp no bụng vì giàu tinh bột. “Tương tự như hột bo bo, ở miền Tây, củ co từng là món độn gạo nấu cơm, nấu cháo, thậm chí là thay cơm trong cái thời đói kém” - ông Út nói thêm.

“Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành…”

Từ năm 1901 tới tháng 7 năm 1903, Kinh xáng Xà No được đào bứt. Lễ khánh thành là ngày trọng đại, có lẽ đó là lần đầu tiên mà Toàn quyền Đông Dương chịu đặt chân đến miền Hậu Giang, có rước ban quân nhạc từ Sài Gòn và tổ chức dạ vũ.

Đi qua buổi đầu thăng trầm, kinh xáng đào xong giúp vùng này phất lên thành “con đường lúa gạo” xứ Hậu Giang, dân cư làm ăn, buôn bán lần hồi xôm tụ, đời sống phấn khởi… Trai gái miệt này mới có tâm trạng lạc quan, giao duyên bằng hò vè, ca hát:

“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Anh có thương em thì sắm một con đò

Để em qua lại thăm dò ý anh…” (ca dao)

Nhà nghiên cứu Huỳnh Công Tín từng khẳng định: “Khi Kinh xáng Xà No được đào thì vùng này trở thành vùng phát triển của lúa gạo, đồng thời là xứ sở của vườn cây ăn trái. Đó chính là khởi nguồn của nền văn minh miệt vườn…”. Khi nền văn minh này khai mở, nếp sinh hoạt người dân từ đầu vốn đã gắn liền với chiếc xáng, con kinh. Thậm chí, những đôi trẻ thương nhau còn chỉ chiếc xáng mà thề non hẹn biển:

“Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành,

Tàu Tây liệt máy, anh mới đành bỏ em…” (ca dao)

Nhưng, sức mạnh của những chiếc xáng đâu là vĩnh cửu. Lần hồi, không ít sự cố xáng chìm, xáng nổ… xảy ra. Hãy còn lưu truyền bài vè về vụ nổ chiếc xáng “Năn” tại chợ Phước Long, Rạch Giá vào năm 1934, với đoạn như sau: 

“…Ngày 29, cuối tháng giêng năm đó,

Tám giờ rưỡi, chợ đương đông đen đỏ

Chiếc xáng Năn múc tới ngang chành

Chết máy rồi, thấy thợ soạn sành

Xúm nhau lại sửa sang máy móc…

… Nghe cái rầm như đất lở trời nghiêng

Người trong chợ thiếu điều té ngửa…

…Thương hại thay mười mấy mạng người

Ông phó xáng văng xuống kinh gần chết…” (Sưu tầm dân gian)

Kinh xáng đào xong, dân nghèo tứ xứ tự động kéo nhau đến cất lều trên bờ, khai khẩn ruộng đất. Những dòng kinh tiếp tục sứ mệnh là mạch nguồn sự sống, bồi đắp ruộng vườn trù phú bạt ngàn...

Năm tháng trôi qua như nước chảy dưới dòng kinh, chuyện xưa tích cũ dần phai trong ký ức. Nhưng mãi đến hôm nay, chiếc xáng và con kinh vẫn là một phần nếp sống, lời ăn tiếng nói của cư dân đất Cần Thơ đi xuyên thế kỷ.

Thanh nhã

Chia sẻ bài viết