10/05/2026 - 05:53

Ghe, xuồng trong đời sống cư dân ĐBSCL 

ĐBSCL được mệnh danh là xứ sở sông nước nên từ xa xưa, ghe, xuồng là phương tiện di chuyển và mưu sinh chủ yếu của cư dân vùng đất này, nhất là vào mùa nước nổi.

Rước dâu trên sông nước miền Tây. Ảnh: DUY KHÔI

Phong phú, đa dạng xuồng ghe

Ở ĐBSCL các loại ghe, xuồng rất phong phú; đáp ứng đa dạng nhu cầu của cư dân vùng sông nước. Có thể kể các loại phổ biến thường gặp:

Xuồng ba lá gồm 3 ván gỗ ghép, giữa xuồng có kê ván làm sạp. Sạp giữa thấp hơn hai sạp ở đầu lái và đầu mũi để giữ thăng bằng. Về nguồn gốc hình thành, có lẽ xuất phát từ đặc điểm của vùng đất có kênh rạch chằng chịt nên trong nhu cầu sử dụng, cư dân ĐBSCL cần gọn, nhẹ, di chuyển nhanh. Từ đó người ta ghép các tấm ván theo hình cân đối gồm 1 ván giữa và 2 ván 2 bên. Xuồng ba lá có chiều dài trung bình 4m, rộng 1,5m, có sức chở nhiều nhất 5-6 người; vừa gọn, vừa kín đáo, có thể luồn lách, ẩn nấp vào đám lá, bụi cây... 

Xuồng năm lá hình dáng không khác nhiều so với xuồng ba lá, chỉ khác là gồm 5 mảnh ván ghép lại nên mức độ chồng chềnh khi di chuyển ít hơn. Do đó, nhiều người xem xuồng năm lá là xuồng cải tiến từ chiếc xuồng ba lá.

Xuồng máy xuất hiện từ ảnh hưởng tiến bộ của khoa học kỹ thuật và nhu cầu sử dụng. Đây là loại xuồng có hình dáng to, cuối đầu lái có gắn thêm động cơ để di chuyển nhanh. Xuồng có đôi be gió chắn trên hai bên mép trên xuồng, có hai thanh gỗ nằm trên cong và chạy theo đến cuối chiều dài của xuồng. Loại xuồng này có đầu lái giống như hình thang vuông.

Ghe tam bản mui ngắn có cấu tạo gồm 9 mảnh ván ghép trở lên, ghe có đôi be gió giống như xuồng máy, phân nửa chiều dài bụng ghe dùng để làm chỗ nghỉ ngơi, phía trước dùng để chở các loại hàng hóa buôn bán, ghe có bánh lái nằm dưới lườn sau đầu lái và có cần để điều khiển, trước mũi ghe có vẽ mắt. Theo dân gian thì đây là biểu tượng dùng để trừ tai ương.

Tam bản mui dài có cấu tạo gần giống tam bản mui ngắn, nhưng mui chiếm gần hết chiều dài ghe, có khoang để ngồi điều khiển bánh lái ghe. Ở đầu mũi và đầu lái có gắn ván thẳng đứng đầu nhọn dài và thon hơn tam bản mui ngắn. Loại này giống như một cái nhà di chuyển trên sông.

Ghe lườn là loại ghe thon, bụng nhỏ và dài, còn gọi là ghe độc mộc. Ghe được làm từ một khúc gỗ, đẵn ra nơi bụng thành ghe. Ghe có cấu tạo rất đơn giản, không có cong, đầu lái và đầu mũi không có sạp. Giữa ghe cũng vậy, cột chèo được đục thẳng vào thành ghe chứ không ghép thành bổ ngang hay bổ dọc.

Ghe chài gồm nhiều mảnh gỗ ghép, ghe có hai tầng, thường có mui rất kiên cố, bên trong dùng để chất hàng hóa, phần sau lái dùng nghỉ ngơi cho người đi ghe. Ghe có cấu tạo phức tạp, đóng rất công phu. Ngoài phần mũi chiếm hết bụng ghe còn có thêm mui rời ở sau sạp lái dùng để tắm rửa, nấu cơm. Ghe này dùng cho những người buôn bán xa, lâu ngày(1).

Bên cạnh đó còn có một số phương tiện giao thông đường thủy khác, như: tắc ráng, vỏ lãi, bè, chẹt, phà... Chở nhẹ, di chuyển nhanh thì có ghe lưới, dùng để chở hàng hóa thì có ghe be, ghe lồng; dùng chở cá thì có ghe cá, ghe rổi; dùng để đánh bắt thủy sản thì đã có ghe cào tôm...

Ghe bán lá ở miệt Cà Mau. Ảnh: DUY KHÔI

Phương tiện phục vụ mọi mặt đời sống

Nhờ sự phong phú, đa dạng kiểu, loại như kể trên, mà ghe, xuồng ở Tây Nam Bộ đáp ứng hầu hết mọi mặt trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cư đân vùng đất này.

Về kinh tế, với phương thức vận chuyển là ghe xuồng, cư dân ĐBSCL đã mua bán, trao đổi hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, tiến hành những hoạt động khai thác phục vụ phát triển kinh tế. Minh chứng rõ nét cho sự đa dạng của sinh hoạt kinh tế bằng ghe xuồng trên sông nước Cửu Long là thương cảng Bãi Xàu và thương cảng Hà Tiên.

Thương cảng Bãi Xàu hình thành đầu thế kỷ thứ XVIII ở vùng Bãi Xàu (Mỹ Xuyên, Sóc Trăng cũ, nay thuộc TP Cần Thơ). Vào năm 1768, thương cảng này mang tên Bát Xắt, lập ở mé sông. Thuyền buôn của nước ngoài đậu san sát từ 100 đến 150 chiếc và cả thuyền buôn trong nước ghé vào mua lúa, gạo, đường, heo, gà, vịt, trái cây... Thương cảng Hà Tiên ra đời đầu thế kỷ thứ XVIII, nằm sát mé biển, thuận tiện cho ghe, thuyền lui tới. Thương cảng này được thương nhân nước ngoài chú ý và đã phồn thịnh dưới thời Mạc Cửu. Cùng với đó, các thương cảng đô thị khác ở Tây Nam Bộ lúc bấy giờ như Mỹ Tho, Long Hồ, Rạch Cát - Chợ Đệm… đã góp phần hình thành nghề buôn và các hoạt động khai thác, dịch vụ bằng ghe ở đây. Như vậy, ghe - xuồng không chỉ là phương tiện đi lại đơn thuần trên sông nước mà còn là phương tiện phục vụ hoạt động kinh tế của cư dân vùng Tây Nam Bộ(2).

Về xã hội, nghề đi ghe mang lại công ăn việc làm cho một bộ phận lao động, tác động đến phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của địa phương. Với nghề đi ghe, việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng ở ĐBSCL được dẩy mạnh, cho phép cư dân Việt vượt ra khỏi khu vực của mình, tham gia vào các hoạt động kinh tế vùng Nam Bộ. Ngoài việc tác động tích cực đến sự hình thành và phát triển của các tụ điểm buôn bán còn để lại một dấu ấn khá rõ trong cách thức cư trú ở địa phương. Đó là việc những người đi ghe thường cư trú tập trung ở bến sông, ngọn lạch họp thành những xóm, mỗi xóm thường theo cùng một nghề. Đây là xu thế tự nhiên và cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của họ. Những người ở cùng địa phương, theo cùng một nghề sẽ dễ dàng trao đổi học tập kinh nghiệm lẫn nhau, giúp nhau nắm những thông tin về giá cả thị trường, tránh bị lỗ lã khi mua bán. Tình cảm lối xóm, mở rộng là tình cảm trong nghề nghiệp khiến những người cư dân sống trên sông nước càng gắn bó, đoàn kết và giúp nhau hơn, nhất là lúc gặp hoạn nạn(3).

Về văn hóa, ghe xuồng gần gũi với con người trong mọi hoạt động sống và không biết từ bao giờ đã đi vào văn hóa dân gian như một sự minh chứng cho thực tế, trong đó sông nước giữ vai trò chuyển tải văn hóa dân gian đi khắp các nơi ở vùng châu thổ này. Ngày xưa, trên các dòng sông, kinh rạch ở Tây Nam Bộ, đêm đêm vẳng lên tiếng hò man mác của những người chèo ghe, những khách thương hồ, những cô gái chở hàng bông đi chợ, những anh chàng giăng câu, thả lưới, ví như câu: “Ghe lui khỏi bến còn dầm / Người thương đâu vắng chỗ nằm còn đây”.

Như vậy, ghe xuồng không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn góp phần truyền tải văn hóa dân gian khắp nơi. Một điệu hò Bạc Liêu hay Đồng Tháp nhờ ghe xuồng mà phổ biến đến Cần Thơ, Vĩnh Long và ngược lại. Tất cả tạo nên nét văn hóa đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long.

TRẦN KIỀU QUANG

(1) Tư liệu: Bảo Tàng Cần Thơ.
(2) Ngô Thị Cẩm Tiên (1995), “Bước đầu tìm hiểu về các loại hình ghe xuồng trong đời sống sinh hoạt của cư dân Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, tr.37-45.
(3) Ngô Thị Cẩm Tiên, Tlđd, tr.49-51
.

Chia sẻ bài viết
Từ khóa
GhexuồngĐBSCL