(CTO) - Kết luận số 26-KL/TW về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL của Bộ Chính trị ban hành đã thể hiện quan điểm chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, tôn trọng quy luật tự nhiên, nhận diện đúng bản chất, nguyên nhân của sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL để có giải pháp xử lý tận gốc.
Chiều 9-5, ông Trịnh Việt Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT); ông Trương Cảnh Tuyên, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, đồng chủ trì Hội nghị triển khai thực hiện Kết luận số 26-KL/TW ngày 24-4-2026 của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL giai đoạn 2026-2035.
Đại diện các đơn vị trực thuộc Bộ NN&MT, UBND các tỉnh, thành vùng ĐBSCL tham dự hội nghị.

Đại biểu tham dự hội nghị.
Tại hội nghị, ông Trịnh Việt Hùng cho biết Bộ NN&MT đã chủ động xây dựng Kế hoạch thực hiện Kết luận 26-KL/TW và đang hoàn chỉnh, dự kiến ban hành trong tháng 5 này; đồng thời đã hoàn thành dự thảo (lần 1) Nghị quyết của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận 26-KL/TW, xin ý kiến của các bộ, ngành, địa phương vùng ĐBSCL, dự kiến hoàn chỉnh trình Chính phủ cuối tháng 5. Bộ NN&MT cũng đã phối hợp bộ, ngành, các địa phương đề xuất 8 dự án xây dựng công trình phòng, chống sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vào kế hoạch đầu tư trong giai đoạn 2026-2030, với tổng kinh phí 32.593 tỉ đồng; hiện đang thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư.
Ông Trịnh Việt Hùng phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.
Bộ trưởng Bộ NN&MT yêu cầu các đơn vị trực thuộc, địa phương vùng ĐBSCL quán triệt sâu sắc, chủ động triển khai Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị. Các địa phương cần triển khai, quán triệt ngay đến các đảng ủy, chi ủy cơ sở; xây dựng chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Kết luận 26-KL/TW; rà soát, bổ sung các nội dung về sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn, lấn biển vùng ĐBSCL vào các quy hoạch tỉnh, thành để điều chỉnh phù hợp: di dời dân cư khu vực thường xuyên xảy ra ngập úng, có nguy cơ cao xảy ra sụt lún, sạt lở đến nơi an toàn. Ông Trịnh Việt Hìng nhấn mạnh, phải quản lý chặt chẽ hoạt động xây dựng nhà ở, công trình, khai thác cát lòng sông, nước ngầm và các hoạt động khác có nguy cơ làm gia tăng sụt lún, sạt lở, ngập úng, xâm nhập mặn; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, cập nhật, cung cấp, chia sẻ dữ liệu về sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn; tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng, các tổ chức và người dân đối với các quy định pháp luật về tài nguyên nước, thủy lợi, bảo vệ rừng, quy hoạch đất đai, xây dựng, phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, xâm nhập mặn, ứng phó với biến đổi khí hậu; tham gia ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận 26-KL/TW với tinh thần trách nhiệm cao, đúng thời gian quy định, làm cơ sở để tổng hợp, tiếp thu và trình Chính phủ xem xét, ban hành để thực hiện…
Kết luận số 26-KL/TW ngày 24-4-2026 về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL của Bộ Chính trị ban hành đã quán triệt quan điểm chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, tôn trọng quy luật tự nhiên, nhận diện đúng bản chất, nguyên nhân của sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL để có giải pháp xử lý tận gốc, bảo đảm tính tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu, kết hợp hài hòa giải pháp phi công trình và công trình; lấy đời sống người dân làm thước đo quan trọng nhất, lấy phát triển kinh tế - xã hội làm trọng tâm, lấy giữ vững môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL làm nguyên tắc nền tảng.

Ông Trương Cảnh Tuyên phát biểu tại hội nghị.
Theo Cục Quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai, hiện hầu hết các khu vực thuộc vùng ĐBSCL đều xảy ra sụt lún từ 0,5-3cm/năm; các vùng ven biển phổ biến lún từ 1,5-2,5cm/năm, nhiều nơi hơn 2,5cm/năm. Kết quả đo đạc của Bộ NN&MT cho thấy mức độ sụt lún tại vùng ĐBSCL trong vòng 5 năm gần đây từ dưới 5cm đến trên 10cm. Riêng vùng Bán đảo Cà Mau, từ năm 2016 đến nay đã xuất hiện 2.137 điểm sụt lún đất tại các tuyến đường giao thông nông thôn và đê bao ven kênh, rạch với tổng chiều dài 53km.

Sạt lở bờ sông diễn ra trên địa bàn TP Cần Thơ vào cuối tháng 4-2026.
Về sạt lở, từ năm 2016 đến nay đã xuất hiện 812 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 1.210,876km. Ngập úng do triều cường gây ra đã gia tăng đáng kể cả về diện tích và chiều sâu ngập úng, độ ngập sâu trung bình 0,2-0,4m (tăng 5-6% so với 10 năm trước), cá biệt một số nơi ở Cần Thơ và Vĩnh Long ngập sâu 0,6-0,7m; thời gian ngập thường kéo dài 2-4 giờ mỗi đợt triều cường, riêng tại TP Cần Thơ ngập thường kéo dài 4-6 giờ mỗi đợt, nếu triều cường kết hợp với mưa lớn, ngập có thể kéo dài 10-12 giờ.
Xâm nhập mặn ở ĐBSCL có xu thế ảnh hưởng sớm hơn từ 1-1,5 tháng (so với năm 2013 trở về trước). Thêm vào đó, hạn mặn khốc liệt cũng diễn ra nhiều hơn, trong 10 năm gần đây ĐBSCL đã xuất hiện 3 đợt hạn hán, xâm nhập mặn lớn, trong đó có 2 đợt cao lịch sử là mùa khô năm 2015-2016 (ranh mặn 4g/l vào sâu 60-73km), năm 2019-2020 (ranh mặn 4g/l vào sâu 70-80km), năm 2023-2024 được xem là nhẹ hơn.
Kết luận số 26-KL/TW xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để tập trung thực hiện là hoàn thiện việc rà soát, bổ sung các nội dung về sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn, lấn biển vùng ĐBSCL vào hệ thống quy hoạch quốc gia; rà soát, đánh giá hiệu quả, tác động của các công trình, cơ sở hạ tầng đã đầu tư (bao gồm cả công trình giao thông), kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập, ưu tiên xây dựng các dự án có tính tổng thể, đa mục tiêu, các cơ sở hạ tầng phục vụ di dời dân; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ cao, tích hợp trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu; tăng cường hợp tác quốc tế song phương và đa phương, nhất là cơ chế hợp tác tiểu vùng sông MeKong; kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về nguồn nước, hệ thống thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai; ưu tiên bố trí nguồn lực, có chính sách phù hợp để khuyến khích, thu hút các dự án đầu tư nước ngoài, khai thác hiệu quả nguồn lực bổ sung như bán tín chỉ các-bon và các nguồn lực khác; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng, các tổ chức và người dân.
Các tác động cơ bản gây sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn gia tăng, nguyên nhân chính do phát triển kinh tế thượng nguồn sông MeKong; xây dựng hồ chứa nước; khai thác cát; gia tăng diện tích tưới; khai thác vận hành kênh đào Phù Nam… Ngoài ra còn có tác động do phát triển kinh tế - xã hội nội vùng ĐBSCL; sự gia tăng dân số; biến đổi khí hậu.
Tại hội nghị, các đại biểu thảo luận xung quanh việc thực hiện công trình ứng phó cần đảm bảo tính bền vững, sinh kế ổn định cho người dân; đồng thời các công trình gắn với phát triển kinh tế - xã hội địa phương, sinh thái vùng, thuận lợi phát triển những công trình, dự án đệm sau kè chống sạt lở, sụt lún…
Tin, ảnh: HÀ VĂN