18/10/2026 - 20:07

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, góp ý về tình hình phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 18-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, góp ý về tình hình phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, phát biểu tại phiên thảo luận ở tổ chiều 18-10.

1. Về phân bổ và giải ngân ngân sách nhà nước năm 2026

Theo các báo cáo số 868 và 918 của Chính phủ trình Quốc hội, tổng nguồn ngân sách dành cho các lĩnh vực này năm 2026 là 104.461,4 tỉ đồng, gồm 95.000 tỉ đồng dự toán năm 2026 và 9.461,4 tỉ đồng chuyển nguồn từ năm 2025. Việc phân bổ này tương đương khoảng 3% tổng chi ngân sách nhà nước và cũng là mức bố trí cao nhất trong nhiều năm, đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn hiện nay không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực mà còn ở khả năng phân bổ, giải ngân và đưa nguồn lực vào thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Một số ví dụ cụ thể: Đến thời điểm báo cáo, số kinh phí đã giao cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 49.549,2 tỉ đồng, tương đương 47,4% tổng nguồn; 30.000 tỉ đồng dành cho quốc phòng, an ninh (nghiên cứu riêng); như vậy còn khoảng 24.912,2 tỉ đồng (khoảng 23,8%) chưa được phân bổ khi chỉ còn hơn 2 tháng là kết thúc năm ngân sách. Đồng thời, dự toán chi đầu tư phát triển đã được điều chỉnh giảm 5.937,6 tỉ đồng theo Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 21-7-2026. Cộng cả 2 khoản này bằng khoảng 30.000 tỉ đồng và bằng ngân sách trước đây cấp cho lĩnh vực khoa học, công nghệ cả nước.

Đáng chú ý, tỷ lệ giải ngân kinh phí khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến hết tháng 8-2026 mới đạt khoảng 31% số vốn đã phân bổ. Theo báo cáo tham gia thẩm tra tình hình kinh tế - xã hội, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng năm 2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạt 6,3% kế hoạch vốn; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đạt 12,8%…

Thực trạng trên cho thấy có khoảng cách lớn giữa chủ trương ưu tiên bố trí ngân sách với khả năng tổ chức thực hiện. Khi năm ngân sách gần kết thúc, một phần đáng kể nguồn kinh phí vẫn chưa được phân bổ, trong khi số đã phân bổ có tỷ lệ giải ngân thấp, tiềm ẩn nguy cơ tiếp tục chuyển nguồn hoặc giải ngân dồn vào cuối năm, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ngân sách.

Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên nhân của khoản 24.912 tỉ đồng chưa phân bổ; xác định cụ thể các nhiệm vụ, dự án không đủ điều kiện triển khai, trách nhiệm của cơ quan liên quan và phương án xử lý nguồn kinh phí này trong năm 2026. Phân định rõ kinh phí đầu tư khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cũng như kinh phí cho đầu tư và cho sự nghiệp khoa học, công nghệ. Có giải pháp giải ngân khoa học, công nghệ, đánh giá hiệu quả đầu tư khoa học, công nghệ.

2. Về tổng chi quốc gia cho nghiên cứu và phát triển (R&D) theo yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Nghiên cứu và phát triển (R&D) là hoạt động tạo ra kiến thức mới, công nghệ mới, sản phẩm mới hoặc cải tiến các sản phẩm, quy trình và dịch vụ hiện có.

Theo yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW: bố trí ngân sách cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đến năm 2030 phải đạt 2% GDP. Tuy nhiên, số liệu được nêu trong Báo cáo của Chính phủ (số 868/BC-CP) và dự thảo Báo cáo thẩm tra của cơ quan của Quốc hội, năm 2023, tổng chi R&D đạt 42.784 tỉ đồng, tương đương 0,41% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (khoảng 2,6% GDP) và thấp hơn các nước trong khu vực như Singapore (2,2%), Thái Lan (1,3%) hay Hàn Quốc (trên 4%).

Và, tỷ trọng kinh phí R&D từ xã hội mặc dù cao hơn ngưỡng 60% nhưng có xu hướng giảm, từ 71,45% năm 2019 xuống 67,22% năm 2023. Hiện nay chưa có số liệu chi cho R&D năm 2024, 2025 và 2026.

Thực trạng trên cho thấy, ngành Khoa học và Công nghệ đứng trước yêu cầu phải chuyển mạnh từ tập trung hoàn thiện thể chế, tăng nguồn lực được bố trí sang nâng cao năng lực huy động, tổ chức thực hiện và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ. Và ngành Khoa học và Công nghệ vẫn còn một số hạn chế và các vấn đề đặt ra: 

Thứ nhất, chưa có lộ trình đủ cụ thể để thực hiện mục tiêu tổng chi R&D đạt 2% GDP vào năm 2030. Với mức xuất phát 0,418% GDP năm 2023, tỷ lệ chi R&D/GDP phải tăng khoảng 4,78 lần mới đạt mục tiêu. Tuy nhiên, các báo cáo hiện chưa thể hiện rõ chỉ tiêu tăng chi R&D từng năm, cơ cấu nguồn lực cần huy động và trách nhiệm tổ chức thực hiện của từng chủ thể.

Thứ hai, chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư R&D chưa tạo được động lực đủ mạnh. Mặc dù kinh phí từ xã hội chiếm tỷ trọng tương đối cao, nhưng quy mô tổng chi R&D còn nhỏ; số doanh nghiệp thực sự có năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ còn hạn chế. Các cơ chế ưu đãi thuế, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, chính sách hỗ trợ nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ cần được đánh giá thực chất về hiệu quả, mức độ tiếp cận và khả năng khuyến khích doanh nghiệp gia tăng đầu tư.

Thứ ba, việc phân bổ và sử dụng nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển còn những bất cập. Đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu còn phân tán; năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng, mua sắm và giải ngân còn vướng mắc. Trong khi đó, việc phân định nguồn kinh phí dành trực tiếp cho R&D trong tổng chi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa rõ, gây khó khăn cho đánh giá hiệu quả đầu tư.

Thứ tư, công tác thống kê, theo dõi tổng chi R&D chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và giám sát. Việc thiếu số liệu cập nhật, chưa phân tích đầy đủ cơ cấu nguồn kinh phí theo Nhà nước, doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp FDI và các nguồn khác làm hạn chế khả năng đánh giá tiến độ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và xác định những giải pháp điều chỉnh kịp thời.

Từ phân tích trên, đại biểu có 4 kiến nghị đối với ngành Khoa học và Công nghệ:

Thứ nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ cần chủ trì xây dựng lộ trình thực hiện mục tiêu tổng chi R&D đạt 2% GDP vào năm 2030, trong đó xác định mục tiêu trung gian từng năm, nhu cầu nguồn lực, cơ cấu huy động từ Nhà nước và xã hội, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức. Lộ trình phải gắn với các chương trình nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược và nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.

Thứ hai, tập trung đổi mới cơ chế, chính sách huy động nguồn lực R&D từ doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ. Rà soát, đề xuất hoàn thiện cơ chế ưu đãi thuế, sử dụng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp; nghiên cứu cơ chế Nhà nước đồng tài trợ các chương trình R&D do doanh nghiệp chủ trì hoặc liên kết với viện nghiên cứu, trường đại học. Đồng thời, có chính sách thúc đẩy doanh nghiệp FDI tăng hoạt động R&D tại Việt Nam, gắn với nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Thư ba, cơ cấu lại các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo hướng tập trung nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ, nhất là công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán; tăng cường cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo nhu cầu thực tiễn; đẩy mạnh liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; lấy sản phẩm nghiên cứu, khả năng ứng dụng, thương mại hóa và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế làm tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả.

Thứ tư, khẩn trương hoàn thiện hệ thống thống kê và báo cáo tổng chi R&D quốc gia, bảo đảm thống nhất với chuẩn mực quốc tế, phân biệt rõ chi R&D với các khoản chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Sớm công bố số liệu cập nhật, làm rõ cơ cấu nguồn tài trợ và khu vực thực hiện, nhất là đóng góp của doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI; định kỳ đánh giá, báo cáo Chính phủ, Quốc hội về tiến độ thực hiện mục tiêu Nghị quyết số 57-NQ/TW.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết