Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 18-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, có một số ý kiến quan trọng đóng góp về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, phát biểu tại phiên thảo luận ở tổ chiều 18-10.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh tán thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số giai đoạn 2026-2030. Đây là mục tiêu có ý nghĩa chiến lược, thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên, đại biểu muốn trao đổi thêm về việc xác định chỉ tiêu tăng trưởng cho các địa phương, nhất là những địa phương có điều kiện khó khăn, đồng thời phải thực hiện các nhiệm vụ chiến lược quốc gia về quốc phòng, an ninh, an ninh lương thực, bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Thứ nhất, cần xác định mục tiêu tăng trưởng phù hợp với điều kiện, tiềm năng và nhiệm vụ đặc thù của từng địa phương.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Đây là mục tiêu của cả nền kinh tế, được hình thành từ đóng góp của các địa phương có quy mô, cơ cấu và điều kiện phát triển khác nhau. Vì vậy, để cả nước tăng trưởng 2 con số, không nhất thiết mọi địa phương đều phải đạt cùng một tốc độ tăng trưởng trên 10%.
Chính phủ cũng đã có sự phân hóa khi giao chỉ tiêu tăng trưởng năm 2026. Theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 8-1-2026, Hải Phòng được giao mục tiêu tăng trưởng GRDP 13-13,5%, Cao Bằng 10%, Sơn La 8%. Tuy nhiên, cần tiếp tục xem xét liệu các chỉ tiêu này đã phản ánh đầy đủ tiềm năng, khả năng huy động nguồn lực và những ràng buộc phát triển của từng địa phương hay chưa.
Chẳng hạn, Cao Bằng có hơn 333km đường biên giới với Trung Quốc, thực hiện nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh, trong khi tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 ước chỉ đạt 4,46%/năm, GRDP bình quân đầu người năm 2025 khoảng 50,73 triệu đồng. Với xuất phát điểm đó, mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 là thách thức rất lớn, đòi hỏi nguồn lực và giải pháp phát triển mang tính đột phá.
Bên cạnh đó, một số địa phương còn phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng, duy trì đất lúa, bảo đảm nguồn nước, môi trường và an ninh lương thực quốc gia. Những nhiệm vụ này tạo ra lợi ích chung nhưng cũng có thể hạn chế khả năng chuyển đổi đất đai, khai thác tài nguyên, phát triển công nghiệp và đô thị.
Vì vậy, việc giao chỉ tiêu tăng trưởng cần dựa trên đánh giá toàn diện về tiềm năng, dư địa phát triển, khả năng huy động nguồn lực và nhiệm vụ chiến lược của từng địa phương, bảo đảm vừa tạo động lực phấn đấu, vừa có tính khả thi.
Thứ hai, cần đánh giá đầy đủ hơn những đóng góp của các địa phương thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhất là những đóng góp chưa được phản ánh tương xứng trong GRDP.
Nhiều địa phương miền núi phía Bắc và Tây Nguyên như Lạng Sơn, Lào Cai, Tuyên Quang, Quảng Trị và các tỉnh Tây Nguyên phải duy trì diện tích rừng lớn, có địa phương có tỷ lệ che phủ rừng trên 60%. Việc bảo vệ rừng không chỉ phục vụ lợi ích của địa phương mà còn góp phần bảo vệ nguồn nước, phòng, chống thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính, duy trì đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái cho nhiều vùng khác. Tuy nhiên, phần lớn những lợi ích này không được phản ánh trực tiếp trong GRDP của địa phương, trong khi yêu cầu bảo vệ rừng, nhất là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, có thể hạn chế khả năng chuyển đổi đất đai và phát triển một số hoạt động kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn.
Tương tự, việc duy trì đất trồng lúa nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia cũng có thể làm giảm dư địa chuyển đổi đất sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.
Theo Quyết định số 1177/QĐ-TTg ngày 30-6-2026 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2030, cả nước dự kiến duy trì khoảng 3,25 triệu héc-ta đất trồng lúa. Riêng vùng ĐBSCL phải duy trì khoảng 1,8-1,9 triệu héc-ta đất lúa đến năm 2030. ĐBSCL đóng góp trên 50% sản lượng lúa và trên 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh lương thực. Tuy nhiên, việc phải duy trì quỹ đất lúa lớn theo yêu cầu chung của quốc gia cũng đặt ra những ràng buộc nhất định đối với khả năng chuyển đổi đất đai, phát triển công nghiệp, đô thị và những ngành có giá trị gia tăng cao hơn.
Tất nhiên, bảo vệ rừng, đất lúa không có nghĩa là không thể tăng trưởng cao. Các địa phương vẫn có thể phát triển nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, kinh tế rừng, du lịch sinh thái và những ngành kinh tế phù hợp. Tuy nhiên, để làm được điều đó cần có nguồn lực đầu tư và chính sách hỗ trợ tương xứng.
Như vậy, vấn đề đặt ra là: Những địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ hàng trăm ngàn héc-ta rừng, duy trì đất lúa hoặc bảo vệ địa bàn chiến lược của quốc gia, nhưng tăng trưởng GRDP thấp hơn địa phương khác, thì đóng góp của họ được đánh giá như thế nào?
Theo đại biểu, nếu chỉ đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng GRDP thì chưa phản ánh đầy đủ đóng góp của địa phương đối với lợi ích chung của đất nước. Vì vậy, cần có hệ thống tiêu chí đánh giá bổ trợ và cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Thứ ba, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ, bù đắp thông qua chính sách tài chính, ngân sách, thay vì điều chỉnh cơ học chỉ tiêu GRDP.
Có ý kiến đề xuất cộng thêm một hệ số tăng trưởng cho những địa phương có điều kiện khó khăn hoặc thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia. Theo đại biểu, phương án này không phù hợp, bởi GDP và GRDP là các chỉ tiêu thống kê phản ánh giá trị tăng thêm thực tế. Việc cộng hệ số hành chính sẽ làm sai lệch bản chất chỉ tiêu, ảnh hưởng đến tính thống nhất, khả năng so sánh và rất khó xác định mức hệ số khách quan, hợp lý.
Do đó, không nên bù đắp bằng cách cộng thêm GRDP, mà cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ thông qua chính sách tài chính, ngân sách và đầu tư phát triển.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hướng tiếp cận này có cơ sở thực tiễn. Chẳng hạn, Brazil đã áp dụng cơ chế điều tiết một phần nguồn thu thuế cho các địa phương có khu bảo tồn thiên nhiên hoặc bảo vệ nguồn nước phục vụ cộng đồng. Liên Hiệp Quốc cũng đã xây dựng hệ thống hạch toán kinh tế - môi trường nhằm lượng hóa tốt hơn giá trị tài nguyên và dịch vụ hệ sinh thái.
Ở Việt Nam, chúng ta đã có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, hỗ trợ bảo vệ đất lúa và bổ sung ngân sách cho địa phương khó khăn. Tuy nhiên, cần đánh giá liệu những chính sách này đã phản ánh đầy đủ chi phí thực hiện nhiệm vụ, chi phí cơ hội phát triển và lợi ích mà địa phương tạo ra cho quốc gia hay chưa.
Đại biểu đề nghị tập trung 3 hướng giải pháp: Một là, hoàn thiện cơ chế phân bổ và bổ sung ngân sách trung ương, có tính đến nhiệm vụ chiến lược và những ràng buộc phát triển của địa phương. Hai là, nghiên cứu hỗ trợ có mục tiêu đối với những đóng góp có thể lượng hóa, như bảo vệ rừng, nguồn nước, hệ sinh thái và đất lúa, bảo đảm tiêu chí khách quan, tránh trùng lặp chính sách. Ba là, ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, khoa học, công nghệ và các ngành kinh tế phù hợp, tạo thêm động lực tăng trưởng lâu dài cho địa phương.
Từ những vấn đề trên, đại biểu kiến nghị Quốc hội xem xét đưa vào nghị quyết kỳ họp nội dung giao Chính phủ nghiên cứu, xây dựng đề án về hoàn thiện cơ chế xác định, giao và đánh giá chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế phù hợp với điều kiện, tiềm năng và nhiệm vụ đặc thù của từng địa phương; đồng thời đề xuất cơ chế tài chính, ngân sách hỗ trợ các địa phương thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia.
Đề án cần tập trung vào 3 nội dung: rà soát phương pháp giao chỉ tiêu GRDP; xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá bổ trợ đối với những đóng góp chiến lược; nghiên cứu cơ chế hỗ trợ, bù đắp hợp lý, làm rõ đối tượng, tiêu chí, phương pháp xác định mức hỗ trợ, nguồn kinh phí và lộ trình thực hiện. Đây là vấn đề cần nghiên cứu chuyên sâu trước khi quyết định chính sách cụ thể.
PV (lược ghi)