18/10/2026 - 12:31

Kinh nghiệm dân gian về nghề biển của ngư dân Tây Nam Bộ 

Trong hoạt động đánh bắt thủy hải sản của ngư dân Tây Nam Bộ, việc nhận biết thời tiết, con nước và ngư trường không chỉ dựa vào những phương tiện, thiết bị hiện đại mà còn dựa vào vốn kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ. Từ việc quan sát bầu trời, mây, gió, sao trời, mặt nước đến nhận biết sự thay đổi của chim, cá và côn trùng, ngư dân hình thành một hệ thống kinh nghiệm để lựa chọn thời điểm ra khơi, ứng phó với thời tiết và tìm kiếm nguồn lợi thủy sản.

Kinh nghiệm nhận biết thời tiết và con nước

Trong vốn kinh nghiệm ấy, bầu trời và biến đổi của thời tiết là những dấu hiệu được ngư dân quan sát thường xuyên. Mây là một trong những dấu hiệu dễ nhận biết nhất. Hình dạng, màu sắc, hướng di chuyển và mức độ dày của mây giúp ngư dân phán đoán khả năng xuất hiện mưa, gió mạnh hoặc biển động. Kinh nghiệm dân gian có câu: “Mây kéo xuống biển thì trời nắng chang chang, mây kéo lên ngàn thì mưa như trút”. Một số dấu hiệu được diễn đạt bằng những câu vần vè dễ nhớ:

“Mây đen đầu đội nón vàng,

Mau tan thì sóng gió tràn đến ngay,

Lâu tan thì đôi ba ngày,

Sóng to gió lớn phải quay trở về”.

Những kinh nghiệm về mây thường được kết hợp với các dấu hiệu khác của bầu trời. Sấm, chớp, sao trời, ráng và mống đều được quan sát tỉ mỉ. Chẳng hạn, dân gian lưu truyền những câu: “Chớp đông nhạy nhảy, gà gáy trời mưa”; “Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa”. Với ráng và mống, màu sắc và hình dạng được dùng để dự đoán mưa, gió hoặc bão. Câu “Mống Đông vồng Tây, không mưa dây cũng bão giật” phản ánh kinh nghiệm quan sát hướng xuất hiện của mống; còn “Ráng mỡ vàng, ai có nhà thì chống” nhấn mạnh sự cảnh giác trước những dấu hiệu bất thường của thời tiết.

Những dấu hiệu trên bầu trời còn được kết hợp với gió và mặt biển để xác định điều kiện ra khơi. Ngư dân không chỉ chú ý gió mạnh hay yếu mà còn quan sát hướng gió, thủy văn và sự thay đổi của mây. Kinh nghiệm về gió được tích lũy theo mùa và theo đặc điểm từng vùng biển. Sự thay đổi của hướng gió, cường độ gió và trạng thái mặt biển giúp ngư dân nhận biết điều kiện thuận lợi hoặc bất lợi cho chuyến biển. Khi biển động, sóng lớn hoặc dòng nước chảy mạnh, việc ra khơi được hạn chế; nếu đang ở ngoài biển mà gặp thời tiết bất lợi, thì tìm nơi tránh trú. Vì vậy, những tri thức này không chỉ có giá trị dự báo mà còn gắn trực tiếp với việc bảo đảm an toàn cho người và phương tiện.

Những kinh nghiệm về con nước và thủy triều tạo thành mảng kiến thức sâu sắc khác của nghề biển. Ngư dân theo dõi độ lớn của sóng, hướng chảy và sự thay đổi của dòng nước để lựa chọn thời điểm ra khơi cũng như xác định khả năng xuất hiện của các luồng cá. Theo kinh nghiệm được ghi nhận, thủy triều mạnh thường gắn với sự xuất hiện nhiều cá hơn. Ngược lại, khi gió lớn làm dòng nước đổi hướng và chảy xiết, tàu thuyền dễ chao đảo, việc đánh bắt cũng trở nên khó khăn. Bởi vậy, hiểu con nước là một phần của kinh nghiệm tổ chức chuyến biển, từ thời điểm rời bến đến việc tìm kiếm và khai thác ngư trường.

Ngư dân xứ biển Vĩnh Châu, TP Cần Thơ. Ảnh: DUY KHÔI

Kinh nghiệm tìm kiếm ngư trường và khai thác thủy sản

Ngư dân cũng quan sát, ghi nhận màu sắc và trạng thái của mặt biển. Những thay đổi bất thường của màu nước có thể báo hiệu sự xuất hiện của luồng cá. Từ những dấu hiệu ấy, ngư dân tiếp tục quan sát đàn cá nhảy, mặt nước sủi bọt hoặc những dấu vết chuyển động trên mặt biển để tìm kiếm ngư trường. Chim biển cũng là dấu hiệu đáng chú ý, bởi sự xuất hiện của đàn chim có thể gắn với sự hiện diện của đàn cá nổi. Vì thế, quan sát chim vừa giúp nhận biết những biến đổi của thời tiết, vừa hỗ trợ xác định nơi có cá.

Tri thức về sinh vật và những biến đổi của tự nhiên còn thể hiện qua việc quan sát côn trùng. Những hiện tượng như kiến bò lên cao, kiến cánh rời tổ hoặc một số loài côn trùng làm tổ ở vị trí cao được dân gian liên hệ với mưa lớn, nước dâng hoặc thời tiết bất thường. Chẳng hạn:

“Kiến bò từ dưới lên trên,

Mang theo cơm gạo gây nên mưa rào”.

Những kinh nghiệm này cho thấy người đi biển không quan sát tự nhiên theo từng hiện tượng tách biệt mà hình thành cách nhận biết tổng hợp, trong đó nhiều dấu hiệu được đối chiếu với nhau trước khi đưa ra quyết định.

Nếu kinh nghiệm về mây, gió, ráng, mống và con nước chủ yếu phục vụ nhận biết điều kiện tự nhiên, thì kinh nghiệm về cá lại gắn trực tiếp với hiệu quả khai thác. Ngư dân căn cứ vào loại cá, kích thước, vị trí sinh tụ và đặc điểm của từng đàn để lựa chọn ngư cụ thích hợp. Không phải đàn cá nào cũng có thể đánh bắt; kích thước đàn, kích thước cá, vị trí xuất hiện và điều kiện mặt biển đều được cân nhắc trước khi thả lưới. 

Đặc biệt, có một kinh nghiệm đáng chú ý là “nghe cá”. Những người đi biển nhiều năm có thể dựa vào âm thanh dưới nước để nhận biết sự hiện diện và đặc điểm của đàn cá. Ngư dân lặn xuống dưới mặt nước và lắng nghe âm thanh của cá để phán đoán hướng di chuyển, khoảng cách, độ sâu, mật độ và loại cá. Người có kinh nghiệm còn phân biệt từng loài bằng những cách mô tả gần gũi với âm thanh quen thuộc trong đời sống, chẳng hạn tiếng cá đù được ví như tiếng mưa rơi trên mặt nước. Đây là dạng kinh nghiệm nghề nghiệp được hình thành chủ yếu qua trải nghiệm và thực hành lâu dài, khó có thể truyền đạt đầy đủ chỉ bằng lời.

***

Có thể nhận thấy kinh nghiệm dân gian của ngư dân Tây Nam Bộ về nghề biển là một dạng tri thức thực tiễn được hình thành trong quá trình thích nghi lâu dài với môi trường sông nước và biển. Từ những dấu hiệu trên bầu trời đến sự vận động của gió, nước, sóng, chim và cá, các hiện tượng tự nhiên được quan sát, ghi nhớ và chuyển thành những kinh nghiệm có khả năng ứng dụng trực tiếp vào đời sống nghề nghiệp. Các câu tục ngữ, ca dao và lời truyền khẩu giúp những kinh nghiệm ấy được ghi nhớ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Ngày nay, các phương tiện dự báo thời tiết, thiết bị định vị và công nghệ hỗ trợ khai thác ngày càng phát triển, nhưng vốn kinh nghiệm truyền thống vẫn có giá trị như một bộ phận của tri thức nghề biển, phản ánh khả năng quan sát và ứng xử với tự nhiên của ngư dân; đồng thời cho thấy mối quan hệ gắn bó giữa cộng đồng cư dân Tây Nam Bộ với không gian biển qua nhiều thế hệ.

Trần Kiều Quang


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Dương Hoàng Lộc (2020), “Tìm hiểu tri thức về thời tiết, thủy văn của ngư dân ven biển Tây Nam Bộ: nghiên cứu trường hợp xã An Thủy (huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) và thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau)”, Tạp chí Phát triển khoa học và công nghệ - Khoa học xã hội và Nhân nhân, 4(4):522-529.

2. Phạm Lan Oanh (Chủ biên) (2021), “Văn hóa dân gian biển đảo vùng Nam Bộ”, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.

Chia sẻ bài viết