23/10/2026 - 14:18

Bà Lê Thị Thanh Lam, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 23-10, sau khi nghe các tờ trình và báo cáo thẩm tra, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Lê Thị Thanh Lam, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật.

Bà Lê Thị Thanh Lam phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ sáng 23-10.

Dự thảo Luật được xây dựng trong bối cảnh chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mới, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Dự thảo Luật đã có nhiều bước tiến mới trong việc tinh gọn hình thức văn bản, cải cách quy trình lập pháp và tăng cường trách nhiệm thi hành. Tuy nhiên, để dự thảo Luật khi được thông qua tránh tình trạng “luật chờ nghị định”, đại biểu đóng góp một số ý kiến như sau:

Thứ nhất, về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Điều 4) quy định thứ bậc hiệu lực của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, trong đó lược bỏ một số nhóm hình thức văn bản quy phạm pháp luật (nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết của Chính phủ và các nghị quyết liên tịch là văn bản quy phạm pháp luật). Việc quy định quá nhiều hình thức văn bản trước đây khiến hệ thống pháp luật bị cồng kềnh, đa tầng nấc, gây khó khăn cho việc nhận diện thứ bậc hiệu lực, tra cứu và kiểm tra văn bản. Việc chuyển đổi nghị quyết quy phạm pháp luật sang hình thức luật hoặc pháp lệnh là phù hợp với xu hướng tinh gọn. Tuy nhiên, cần rà soát kỹ lưỡng các nội dung mang tính đặc thù (như các cơ chính sách đặc thù địa phương, thí điểm) trước đây đã ban hành bằng hình thức nghị quyết của Quốc hội. Việc chuyển toàn bộ sang hình thức luật có thể làm quá tải quy trình làm luật nếu không thiết kế quy trình linh hoạt hơn. 

Đề nghị bổ sung cơ chế chuyển tiếp tại Điều 68 đối với các nghị quyết quy phạm đang còn hiệu lực, tránh tạo khoảng trống pháp lý trong quản lý điều hành khi luật mới có hiệu lực.

Thứ hai, về văn bản quy phạm pháp luật quy định thí điểm chính sách (Điều 20) quy định về phạm vi, nguyên tắc, thời hạn thí điểm (không quá 5 năm, gia hạn 1 lần không quá 5 năm) và giới hạn các lĩnh vực chính quyền địa phương không được thí điểm (quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo...). Thực tế thời gian qua, việc ban hành các cơ chế thí điểm diễn ra ở nhiều cấp, nhưng thiếu quy định khung thống nhất về quản trị rủi ro, kiểm soát quyền lực và cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho người thi hành thí điểm khi xảy ra rủi ro khách quan.

Đề nghị bổ sung cụ thể hơn nguyên tắc và điều kiện “miễn trừ trách nhiệm” tại điểm a, khoản 1, Điều 20 để cán bộ, cơ quan thực hiện yên tâm đổi mới sáng tạo, tránh tâm lý e ngại rủi ro. Đồng thời, quy định rõ tiêu chí đánh giá, sơ kết, tổng kết giai đoạn thí điểm để kịp thời quyết định việc luật hóa chính sách hoặc chấm dứt thí điểm, tránh tình trạng kéo dài thí điểm vô thời hạn.

Thứ ba, về ban hành văn bản trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách khi Quốc hội không thể họp (Điều 48, Điều 49, Điều 50, Điều 51): Quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, Chính phủ ban hành nghị định để điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp được, với hiệu lực không quá 1 năm. Thực tiễn triển khai Nghị quyết số 206/2025/QH15 cho thấy việc xử lý nhanh các vướng mắc pháp lý cấp bách là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc cho phép văn bản dưới luật (nghị định) hoặc pháp lệnh điều chỉnh quy định của luật là vấn đề rất lớn liên quan đến thẩm quyền lập pháp hiến định của Quốc hội. Đại biểu thống nhất quy định này nhưng cần xiết chặt tối đa các điều kiện như: phải có sự đồng ý của cấp có thẩm quyền và có văn bản xác nhận chính thức của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quốc hội không thể họp được”.

Đề nghị quy định bắt buộc: Ngay tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội, Chính phủ/Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định việc ban hành luật để thay thế hoặc chấm dứt hiệu lực của pháp lệnh, nghị định đó, không để kéo dài hết thời hạn 1 năm nếu Quốc hội đã họp trở lại.

Thứ tư, về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật (Chương VIII - Điều 57 đến Điều 65). Dự thảo dành riêng Chương VIII bổ sung toàn diện các quy định về tổ chức thi hành; giải thích Hiến pháp, luật; hướng dẫn áp dụng; kiểm tra, rà soát, hợp nhất, pháp điển; đánh giá hiệu quả thi hành và phản ứng chính sách. Khâu tổ chức thi hành pháp luật lâu nay vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Tình trạng văn bản hay nhưng khó vào cuộc sống hoặc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết diễn ra thường xuyên.

Đại biểu đánh giá cao việc bổ sung Điều 65 về “Đánh giá hiệu quả thi hành và phản ứng chính sách”. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành. Quy định rõ chế tài xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan chậm ban hành văn bản quy định chi tiết hoặc ban hành văn bản trái pháp luật, gây thiệt hại cho Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Thứ năm, về trách nhiệm của người đứng đầu và nguồn lực (Điều 66, Điều 67). Quy định trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu; cơ chế đặc thù về kinh phí, thu hút nhân lực chất lượng cao; và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác lập pháp. Đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế, xây dựng pháp luật ở các bộ, ngành và địa phương hiện nay vừa thiếu vừa áp lực, chính sách đãi ngộ chưa tương xứng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và AI còn rời rạc.

Đề nghị Quốc hội và Chính phủ sớm ban hành cơ chế tài chính đặc thù (khoán chi, đãi ngộ chuyên gia) cho công tác xây dựng pháp luật. Đồng thời, đẩy nhanh việc xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ rà soát mâu thuẫn, chồng chéo văn bản, giúp nâng cao năng suất và chất lượng thẩm định, thẩm tra.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết