23/10/2026 - 14:39

Củng cố niềm tin, nâng tầm vị thế đất nước 

Việt Nam đang từng bước chuyển hóa những lợi thế về ổn định chính trị-xã hội, bản sắc văn hóa, thành tựu phát triển và đường lối đối ngoại thành nguồn lực gia tăng vị thế quốc tế. Chính vì vậy, đánh giá thực tiễn Việt Nam cần đặt trong quan hệ giữa những thành tựu đã đạt được, năng lực chuyển hóa các thành tựu thành uy tín quốc tế và những yêu cầu tiếp tục đổi mới quản trị để nâng cao sức hấp dẫn quốc gia.

Thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ trên cao. (Ảnh: LÊ MẠNH LINH)

Củng cố uy tín và nâng cao sức hấp dẫn quốc gia

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia quốc tế, môi trường hòa bình, ổn định tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại và tăng cường hợp tác với các đối tác được xem là những nền tảng tạo dựng hình ảnh và vị thế quốc tế của Việt Nam.

Tuy nhiên, giá trị của sự ổn định không chỉ nằm ở khả năng duy trì trật tự, mà còn ở năng lực bảo đảm tính liên tục của chính sách, chủ động ứng phó với những biến động bên ngoài.

Cùng với đó, việc mở rộng quan hệ kinh tế, tham gia các hiệp định thương mại tự do, thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường kết nối với các trung tâm kinh tế lớn đã giúp Việt Nam nâng cao mức độ gắn kết với nền kinh tế thế giới.

Truyền thống yêu nước, tinh thần nhân ái, ý chí độc lập, khả năng thích ứng và khát vọng hòa bình là những nguồn lực tinh thần có thể tạo nên sự đồng cảm và thiện cảm quốc tế.

Cùng với di sản văn hóa phong phú, sự đa dạng của đời sống xã hội, ẩm thực, du lịch và các sản phẩm sáng tạo, những giá trị này góp phần tạo nên nét riêng của Việt Nam trong nhận thức của bạn bè quốc tế.

Đặc biệt, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, cùng chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, tạo nền tảng để Việt Nam xây dựng hình ảnh một đối tác chủ động và có trách nhiệm.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, cùng chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, tạo nền tảng để Việt Nam xây dựng hình ảnh một đối tác chủ động và có trách nhiệm.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu triển khai đồng bộ, sáng tạo các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả; chủ động đóng góp vào hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, trên cơ sở luật pháp quốc tế và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

Năm 2025, Việt Nam đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, sắp xếp tổ chức bộ máy, cải cách thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số; đồng thời ban hành nhiều nghị quyết chiến lược về khoa học-công nghệ, hội nhập quốc tế, xây dựng và thi hành pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, giáo dục và chăm sóc sức khỏe Nhân dân.

Việc tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền đặt ra yêu cầu chuyển từ phương thức quản lý nặng về quy trình sang mô hình vận hành chú trọng hiệu quả, trách nhiệm và kết quả đầu ra. Đối với các chủ thể quốc tế, hiệu quả cải cách không chỉ thể hiện ở quy mô thay đổi tổ chức, mà còn ở khả năng giải quyết công việc nhanh chóng, minh bạch, nhất quán và có thể dự đoán.

Việc mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các đối tác, tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương và tăng cường hợp tác trên những lĩnh vực cùng quan tâm đã góp phần mở rộng không gian phát triển của Việt Nam. Việt Nam tiếp tục nâng cấp quan hệ với nhiều quốc gia, đồng thời tham gia tổ chức các sự kiện quốc tế quan trọng, qua đó tăng cường kết nối và khẳng định vai trò trong các vấn đề khu vực, toàn cầu.

Những kết quả này có ý nghĩa đối với quyền lực mềm ở hai phương diện. Một mặt, mạng lưới quan hệ đối tác rộng mở tạo điều kiện lan tỏa hình ảnh và các giá trị của Việt Nam. Mặt khác, việc tham gia các cơ chế hợp tác và thực hiện những cam kết quốc tế tạo cơ hội để thể hiện năng lực đối thoại, tinh thần trách nhiệm và khả năng đóng góp vào giải quyết các vấn đề chung.

Việt Nam đã hình thành các điều kiện thuận lợi để nâng cao sức hấp dẫn quốc tế, từ nền tảng ổn định, thành tựu phát triển đến mạng lưới quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng. Song, quá trình chuyển hóa những điều kiện đó thành quyền lực mềm bền vững vẫn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng thực thi chính sách, hiệu quả vận hành thể chế và khả năng bảo đảm sự nhất quán giữa định hướng phát triển với kết quả thực tế.

Phát huy quyền lực mềm và sức hấp dẫn quốc tế của Việt Nam

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra những định hướng quan trọng về phát triển nhanh, bền vững, hoàn thiện thể chế, phát huy sức mạnh văn hóa và con người, đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả.

Theo đó, thể chế là nền tảng định hình chất lượng quản trị quốc gia, đồng thời tạo lập môi trường để các nguồn lực phát triển được huy động và sử dụng hiệu quả. Một hệ thống thể chế đồng bộ, minh bạch, ổn định và có khả năng thích ứng không chỉ góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn trong nước mà còn củng cố niềm tin của các chủ thể quốc tế.

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật nhấn mạnh yêu cầu đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm minh, nhất quán. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân định rõ trách nhiệm, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường kiểm soát quyền lực. Một chính sách chỉ thật sự tạo ra uy tín khi được triển khai đúng mục tiêu, nhất quán trong thực tiễn và đem lại kết quả có thể kiểm chứng.

Chất lượng quản trị quốc gia được phản ánh trực tiếp qua hiệu quả hoạt động của bộ máy công quyền và trải nghiệm của người dân, doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận dịch vụ công. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực quan trọng để đổi mới phương thức quản trị và phát triển kinh tế-xã hội, điều này đặt ra yêu cầu đổi mới đồng thời phương thức quản lý, năng lực của đội ngũ thực thi và chất lượng phục vụ, thay vì chỉ ứng dụng công nghệ vào các quy trình hiện có. Tinh gọn tổ chức bộ máy phải gắn với nâng cao chất lượng vận hành, cải thiện phối hợp liên ngành và bảo đảm việc cung cấp dịch vụ công thông suốt.

Xây dựng hình ảnh Việt Nam ổn định, đáng tin cậy và có sức hấp dẫn không thể chỉ dựa vào các hoạt động quảng bá, mà phải bắt nguồn từ chất lượng quản trị, hiệu quả phát triển và sự nhất quán giữa cam kết với hành động. Sức hấp dẫn bền vững của một đất nước không chỉ nằm ở những giá trị mà đất nước sở hữu, mà còn ở cách những giá trị ấy được hiện thực hóa, niềm tin được tạo dựng và trách nhiệm được thể hiện trong quan hệ với cộng đồng quốc tế.

 

Niềm tin xã hội là một trong những nền tảng quan trọng của hiệu quả quản trị và sức mạnh quốc gia. Quan điểm lấy dân làm gốc được thể hiện xuyên suốt trong định hướng phát triển đất nước của Đảng, gắn với yêu cầu phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam và khơi dậy khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng nguồn lực công; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức có liên quan; nêu cao trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền. Niềm tin không thể chỉ được củng cố bằng tuyên truyền hay vận động, mà phải được bồi đắp qua trải nghiệm thực tế về sự công bằng, minh bạch và hiệu quả của bộ máy quản lý.

Đặc biệt, văn hóa là một trong những nguồn lực cơ bản của quyền lực mềm, bởi khả năng tạo dựng sự đồng cảm, thiện cảm và kết nối giữa các cộng đồng. Nghị quyết số 80- NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định văn hóa và con người là nền tảng, động lực và nguồn lực quan trọng của phát triển bền vững. Cần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, di sản và bản sắc dân tộc gắn với đổi mới phương thức giới thiệu, diễn giải và tiếp cận công chúng quốc tế.

Cùng với đó, cần nâng cao hiệu quả đối ngoại và hội nhập quốc tế, chuyển hóa uy tín thành lợi thế hợp tác. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới xác định hội nhập quốc tế là động lực chiến lược để phát triển đất nước, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính đồng bộ của hoạt động hội nhập. Cần nâng cao độ tin cậy trong thực hiện các cam kết quốc tế; bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương, tuyên bố và hành động; chủ động rà soát những nghĩa vụ đã cam kết và nâng cao năng lực phối hợp giữa các cơ quan trong tổ chức thực hiện.

Việt Nam cần tiếp tục đóng góp thực chất vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới, bao gồm phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh con người và giải quyết các thách thức xuyên quốc gia.

Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã đặt mục tiêu nâng cao nhận thức, thiện cảm và sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với đất nước, con người, văn hóa và thành tựu phát triển của Việt Nam; góp phần khẳng định vị thế, uy tín, bản sắc và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Xây dựng hình ảnh Việt Nam ổn định, đáng tin cậy và có sức hấp dẫn không thể chỉ dựa vào các hoạt động quảng bá, mà phải bắt nguồn từ chất lượng quản trị, hiệu quả phát triển và sự nhất quán giữa cam kết với hành động. Phát huy quyền lực mềm cần được nhìn nhận như một quá trình lâu dài, gắn chặt với đổi mới quản trị và nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Sức hấp dẫn bền vững của một đất nước không chỉ nằm ở những giá trị mà đất nước sở hữu, mà còn ở cách những giá trị ấy được hiện thực hóa, niềm tin được tạo dựng và trách nhiệm được thể hiện trong quan hệ với cộng đồng quốc tế.

TRẦN NGUYÊN HỘI (Báo Nhân dân)

Chia sẻ bài viết

Link gốc: https://nhandan.vn/cung-co-niem-tin-nang-tam-vi-the-dat-nuoc-post997457.html