22/10/2026 - 15:51

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 22-10, sau khi nghe các tờ trình và báo cáo thẩm tra, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ sáng 22-10.

Qua nghiên cứu dự thảo Luật Đất đai cùng hồ sơ tiếp thu, giải trình của Chính phủ và đối chiếu với những nội dung đã góp ý tại kỳ họp tháng 8-2026, đại biểu nhận thấy dự thảo lần này đã có những bổ sung đáng ghi nhận. Những thay đổi này đáp ứng một phần các vấn đề đã đặt ra tại kỳ họp trước. 

Tuy nhiên, một số nội dung mới dừng ở nguyên tắc, chưa xác định đầy đủ điều kiện thực hiện, giới hạn thẩm quyền và trách nhiệm xử lý khi quyền lợi của người dân chưa được bảo đảm, nhất là trong công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư. Xuất phát từ thực tiễn hiện nay, đại biểu góp ý 5 nội dung:

1. Về thẩm quyền và trách nhiệm trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Điểm a, b và d, khoản 2, Điều 18; khoản 1, Điều 47; khoản 5, Điều 48 dự thảo

Khác với bản dự thảo được góp ý tại kỳ họp trước, Điều 18 hiện đã phân định thẩm quyền theo đối tượng sử dụng đất. UBND cấp xã quyết định đối với cá nhân, cộng đồng dân cư; UBND cấp tỉnh quyết định đối với các nhóm tổ chức và đối tượng được liệt kê tại điểm a. Dự thảo cũng cho phép cấp tỉnh phân cấp, ủy quyền trong một số trường hợp.

Tuy nhiên, quy định cấp tỉnh quyết định đối với dự án trên địa bàn từ 2 đơn vị hành chính cấp xã trở lên tại điểm a chỉ mới đề cập đến việc giao đất, cho thuê đất. Trách nhiệm thống nhất tổ chức thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với dự án liên xã chưa được thể hiện tương ứng. Điểm d đã đề cập dự án có cả tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, nhưng chưa giải quyết đầy đủ yêu cầu phối hợp giữa nhiều xã trong cùng một dự án.

Trong thực hiện các dự án giao thông, hạ tầng tại các địa phương, một dự án có thể liên quan nhiều địa bàn và nhiều nhóm người sử dụng đất. Nếu thiếu đầu mối điều phối, việc xác minh nguồn gốc đất, áp dụng chính sách hỗ trợ, bố trí tái định cư và xử lý kiến nghị có thể không thống nhất, dù cùng thuộc một dự án.

Vì vậy, kiến nghị bổ sung vào khoản 2, Điều 18 trách nhiệm của UBND cấp tỉnh thống nhất điều phối công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với dự án liên quan từ 2 đơn vị hành chính cấp xã trở lên. Nội dung điều phối phải bao gồm nguồn vốn, quỹ đất tái định cư, hướng dẫn áp dụng chính sách và giải quyết vướng mắc giữa các địa bàn các xã với nhau. Đối với dự án phức tạp, cần quy định rõ trường hợp cấp tỉnh trực tiếp quyết định để bảo đảm xử lý thống nhất.

Kiến nghị xem xét, sửa điểm d, khoản 2, Điều 18 theo hướng việc phân cấp, ủy quyền phải xác định rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm kiểm tra và điều kiện bảo đảm về nhân lực, kinh phí, thông tin dữ liệu. Tại khoản 5, Điều 48, cần xác định rõ UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức khi bố trí tái định cư ngoài địa bàn xã nơi có đất thu hồi, thay cho cách quy định chung là “cơ quan có thẩm quyền”.

2. Về trình tự thu hồi đất và bảo đảm quyền của người có đất thu hồi.

Điểm đ, e, khoản 1 và khoản 4, Điều 38, và quy định về chi trả tại Điều 41

Điều 38 đã thể hiện rõ hơn các công việc trong quá trình thu hồi đất, trong đó có việc lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Tuy vậy, cần tiếp tục làm rõ hậu quả pháp lý của việc lấy ý kiến. Người dân phải được biết ý kiến của mình được tiếp thu như thế nào; trường hợp không tiếp thu thì căn cứ và lý do là gì.

Đề nghị bổ sung sau điểm đ, khoản 1, Điều 38 trách nhiệm công khai phương án, tổng hợp và giải trình ý kiến; tổ chức đối thoại về nội dung còn chưa thống nhất trước khi trình thẩm định, phê duyệt. Hồ sơ trình phê duyệt phải có kết quả lấy ý kiến, đối thoại và giải trình. Những nội dung này cần được ghi nhận ngay trong Luật để việc tham gia của người dân có giá trị thực chất.

Đáng chú ý, điểm b, khoản 4, Điều 38 cho phép quyết định thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án đối với dự án không phải bố trí tái định cư và được trên 75% người sử dụng đất đồng ý. Quy định này có thể rút ngắn tiến độ, nhưng sự đồng ý của đa số không thể thay thế ý chí của từng người đối với việc thu hồi trước khi quyền lợi của họ được xác định.

Đề nghị sửa điểm b, khoản 4, Điều 38 theo hướng: tỷ lệ đồng ý của dự án chỉ là điều kiện để xem xét áp dụng cơ chế; việc thu hồi trước khi phê duyệt phương án chỉ thực hiện đối với người đã tự nguyện đồng ý bằng văn bản sau khi được cung cấp thông tin về quyền lợi và thời hạn giải quyết. Người chưa đồng ý được thực hiện theo trình tự thông thường, trừ trường hợp thuộc diện đặc biệt quy định riêng tại điểm a khoản này. Nội dung sửa đổi phải được rà soát đồng bộ với điểm c về tự nguyện bàn giao mặt bằng, tránh trùng lặp.

Đối với trường hợp thu hồi trước theo điểm a, đề nghị bổ sung điều kiện phải có dự kiến bồi thường, hỗ trợ, nguồn kinh phí bảo đảm, biện pháp hỗ trợ trong thời gian chờ và thời hạn bắt buộc phê duyệt phương án. Cần phân biệt rõ thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất với điều kiện tổ chức cưỡng chế; quyết định được ban hành sớm không đồng nghĩa được bỏ qua các bảo đảm về bồi thường, hỗ trợ.

Về chi trả, Điều 110 của dự thảo Nghị định hướng dẫn đã quy định thời hạn 30 ngày và khoản tiền phải trả thêm khi chậm thanh toán. Đề nghị đưa nguyên tắc này vào Điều 41 của Luật, đồng thời quy định việc tổ chức cưỡng chế phải gắn với việc hoàn thành trách nhiệm chi trả hoặc gửi tiền theo luật đối với trường hợp người dân không nhận tiền, đất hoặc tài sản đang có tranh chấp. Người dân cần có căn cứ trực tiếp trong Luật để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn.

3. Về thẩm quyền quyết định chính sách hỗ trợ khác.

Điều 46 dự thảo

Điều 46 đã bổ sung mục tiêu phục hồi sinh kế, nhưng chưa quy định trực tiếp thẩm quyền của địa phương đối với chính sách hỗ trợ khác. Đây là nội dung đại biểu tiếp tục đề nghị xem xét kỹ để tạo sự đồng bộ với các quy định hiện hành và đặc biệt là đảm bảo quyền lợi của người có đất bị thu hồi.

Khoản 12, Điều 3 Nghị quyết số 254/2025/QH15 đã xác định thẩm quyền của UBND cấp tỉnh quy định biện pháp, mức hỗ trợ khác và việc UBND cấp xã quyết định áp dụng đối với từng dự án. Trong hồ sơ lần này, Điều 105 dự thảo Nghị định hướng dẫn cũng giao UBND cấp tỉnh quy định hỗ trợ khác. Như vậy, vấn đề cần hoàn thiện là đưa nguyên tắc phân định thẩm quyền này vào Luật để bảo đảm cơ sở pháp lý ổn định.

Thực tiễn thu hồi đất có những tác động không thể giải quyết hết bằng đơn giá bồi thường hoặc một mức hỗ trợ chung. Hộ sản xuất nông nghiệp cần điều kiện tiếp tục sản xuất; hộ kinh doanh cần thời gian và địa điểm khôi phục hoạt động; người cao tuổi mất nguồn thu từ đất có thể không còn khả năng chuyển nghề. Địa phương cần có thẩm quyền xử lý những khác biệt đó trên cơ sở tiêu chí rõ ràng.

Đề nghị bổ sung vào Điều 46 hai khoản theo hướng:

“UBND cấp tỉnh căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm địa phương và mức độ ảnh hưởng của việc thu hồi đất quy định đối tượng, điều kiện, biện pháp và mức hỗ trợ khác nhằm bảo đảm chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất, kinh doanh và phục hồi sinh kế.

Căn cứ quy định của UBND cấp tỉnh, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định áp dụng hỗ trợ khác đối với từng dự án. Việc hỗ trợ phải công khai, có nguồn kinh phí bảo đảm và không chi trả trùng lặp cho cùng một nội dung thiệt hại.”.

Quy định này cần phân biệt rõ với chính sách đặc thù tại khoản 1, Điều 42. Điều 42 dành cho dự án thuộc phạm vi đặc biệt, làm di chuyển cả cộng đồng dân cư; còn hỗ trợ khác tại Điều 46 cần xử lý được những tác động cụ thể trong các dự án thông thường.

4. Về tái định cư và giới hạn áp dụng biện pháp tạm cư.

Khoản 4, Điều 41; khoản 2, Điều 47; khoản 2, Điều 48 của dự thảo

Khoản 4, Điều 41 quy định có thể cưỡng chế thu hồi đất sau khi đã bố trí tái định cư hoặc tạm cư theo phương án được phê duyệt. Báo cáo số 942/BC-CP giải trình việc thiết kế quy định này để xử lý khó khăn đối với dự án cấp bách, tái định cư tại chỗ và những trường hợp cần linh hoạt về tiến độ.

Tuy nhiên, khoản 4, Điều 41 hiện chưa giới hạn trường hợp được dùng tạm cư làm điều kiện cưỡng chế, chưa xác định thời hạn tạm cư và trách nhiệm khi chậm giao nơi ở chính thức. Nếu chỉ cần bố trí tạm cư đã đủ điều kiện cưỡng chế thì người dân có thể phải rời nơi ở trong khi thời điểm nhận đất, nhà tái định cư vẫn chưa được bảo đảm.

Đề nghị sửa khoản 4, Điều 41 theo hướng lấy việc hoàn thành bố trí tái định cư làm điều kiện thông thường trước khi cưỡng chế. Việc sử dụng tạm cư làm điều kiện thay thế chỉ áp dụng đối với trường hợp đặc biệt được Luật xác định, như dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư công khẩn cấp. Đối với tái định cư tại chỗ theo khoản 2, Điều 48, cần có sự đồng ý bằng văn bản về phương án tạm cư sau khi người dân được thông tin đầy đủ.

Trong các trường hợp được tạm cư, phương án phải xác định cụ thể nơi ở chính thức sẽ được bố trí, tiến độ hoàn thành, thời hạn bàn giao, nguồn vốn và cơ quan chịu trách nhiệm. Chính phủ cần quy định giới hạn thời gian tạm cư theo từng trường hợp; việc gia hạn phải có lý do, được kiểm tra và không làm chấm dứt trách nhiệm hỗ trợ.

Đồng thời, đề nghị bổ sung tại khoản 2, Điều 48 nội dung: “người dân được bảo đảm chỗ ở tạm hoặc tiền thuê nhà phù hợp với điều kiện thực tế trong suốt thời gian chờ; được hỗ trợ chi phí di chuyển cần thiết; trường hợp chậm bàn giao do cơ quan, đơn vị thực hiện dự án thì phải tiếp tục hỗ trợ và xử lý trách nhiệm. Không thể để người dân tự gánh chi phí phát sinh vì khu tái định cư chậm hoàn thành”.

Đối với khoản 2, Điều 47, cần bổ sung yêu cầu hạ tầng thiết yếu phải đủ điều kiện vận hành khi bàn giao nơi ở. Đường, điện, nước và khả năng tiếp cận trường học, cơ sở y tế phải được kiểm tra trên thực tế, không chỉ thể hiện trong thiết kế hoặc hồ sơ nghiệm thu.

5. Về giá đất tính bồi thường và tỷ lệ bồi thường.

Khoản 1, Điều 75; khoản 4, khoản 5 và khoản 6, Điều 76; điểm e, khoản 2, Điều 72 dự thảo

Đại biểu thống nhất với định hướng sử dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh để giảm thời gian xác định giá cho từng dự án. Tuy nhiên, cơ chế này phải phản ánh được sự khác biệt thực tế giữa các thửa đất, khu vực và thời điểm áp dụng.

Khoản 1, Điều 75 quy định các nguyên tắc trung thực, khách quan, công khai, minh bạch, dựa trên dữ liệu và hài hòa lợi ích. Khoản 5, Điều 76 quy định chu kỳ quyết định bảng giá đất, hệ số điều chỉnh là 3 năm, đồng thời cho phép sửa đổi, bổ sung trong một số trường hợp. Như vậy, dự thảo đã có cơ chế điều chỉnh giữa kỳ; vấn đề cần bổ sung là căn cứ bắt buộc rà soát khi giá đất biến động đáng kể và trách nhiệm giải quyết trước khi phê duyệt phương án bồi thường.

Trong thực tiễn tại TP Cần Thơ, tại 1 vị trí thuộc nút giao số 3 của Dự án cải tạo, mở rộng 5 nút giao trọng điểm của thành phố, mức giá theo bảng giá và hệ số K là 33,2 triệu đồng/m², trong khi phương án tư vấn đề xuất 77 triệu đồng/m². Giá do tư vấn đề xuất không mặc nhiên là giá đúng hoặc giá đã được phê duyệt, nhưng mức chênh lệch này cho thấy cần kiểm tra kỹ dữ liệu, điều kiện so sánh và cách xác định giá trước khi quyết định quyền lợi của người dân.

Do đó, đề nghị:

(1) tại khoản 1, Điều 75: Bổ sung nguyên tắc giá đất tính bồi thường phải dựa trên thông tin thị trường được kiểm chứng trong điều kiện bình thường, phản ánh mục đích sử dụng, vị trí, điều kiện hạ tầng và các yếu tố pháp lý của đất tại thời điểm xác định giá. Những giao dịch bất thường hoặc thông tin có dấu hiệu tạo giá phải được kiểm tra, loại trừ theo tiêu chí rõ ràng.

(2) tại khoản 5, Điều 76: Xem xét, điều chỉnh theo hướng:

“Khi thông tin giá đất đã được kiểm chứng cho thấy bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất không còn phù hợp do biến động đáng kể, cơ quan tài chính cấp tỉnh có trách nhiệm chủ trì rà soát, báo cáo UBND cấp tỉnh trình HĐND cấp tỉnh xem xét sửa đổi, bổ sung kịp thời. Việc rà soát phải được thực hiện trước khi phê duyệt phương án bồi thường đối với khu vực bị ảnh hưởng bởi biến động đó.”.

(3) tại khoản 4 và khoản 6, Điều 76: Bổ sung cơ chế xác định hệ số đủ chi tiết theo khu vực, vị trí có điều kiện khác biệt; công khai phương pháp và căn cứ xác định, bảo vệ thông tin cá nhân theo pháp luật; tiếp nhận, giải trình kiến nghị của người có đất thu hồi. Chính phủ quy định tiêu chí nhận diện biến động và thời hạn xử lý để việc rà soát không trở thành một khâu chờ đợi không xác định.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết