11/08/2015 - 14:28

PGS.TS Võ Thành Nhân, Trưởng khoa Tim mạch can thiệp - Bệnh viện Chợ Rẫy, Chủ tịch Hội Tim mạch can thiệp TP Hồ Chí Minh:

Chủ động kiểm soát nguy cơ mắc bệnh tim mạch là vấn đề bức thiết

Vừa qua, tại TP Cần Thơ các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ đầu ngành về lĩnh vực tim mạch trong cả nước đã tham dự Hội nghị Tim mạch can thiệp (TMCT) thường niên năm 2015 (do Hội TMCT TP Hồ Chí Minh phối hợp cùng BVĐK Trung ương Cần Thơ tổ chức), cùng thảo luận về tình trạng phát triển của bệnh tim mạch và vấn đề quan trọng là tuyên truyền, hướng dẫn người dân hiểu biết và tôn trọng những quy tắc trong cuộc sống để chủ động kiểm soát nguy cơ mắc bệnh, giúp gia đình và xã hội giảm gánh nặng kinh tế do bệnh tật. PGS.TS Võ Thành Nhân, Trưởng khoa Tim mạch can thiệp - BV Chợ Rẫy, Chủ tịch Hội TMCT TP Hồ Chí Minh, cho biết:

* Yếu tố nguy cơ:

Có 2 yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch, gồm: Yếu tố nguy cơ không thay đổi và yếu tố nguy cơ có thể thay đổi. Không thay đổi là do di truyền, tuổi tác và giới tính (nam giới mắc bệnh sớm và nhiều hơn nữ). Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được đang là vấn đề cảnh báo trong xã hội, gồm: Do tăng huyết áp, rối loạn lipid (mỡ) máu, hút thuốc lá, thừa cân, béo phì; giảm dung nạp đường/ đái tháo đường; lười vận động. Ngoài ra còn có một số yếu tố nguy cơ có thể, như: Căng thẳng, Estrogen, tăng đông máu, uống rượu quá mức, hói đầu sớm và nhiều ở đỉnh đầu (nam giới), mãn kinh sớm ở nữ (trước 48 tuổi).

* Phải tuyệt đối làm giảm nguy cơ:

Việc giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch chủ yếu là phải thay đổi lối sống, căn cứ trên việc mắc các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi. Đó là:

- Tăng huyết áp được coi là kẻ giết người thầm lặng và là nguy cơ mạnh nhất gây các biến cố tim mạch. Huyết áp tăng thường không có triệu chứng gì, nhưng nếu tăng huyết áp kết hợp với béo phì, tăng hàm lượng cholesterol, triglycerid trong máu và đái tháo đường. Một rối loạn này có thể là nguy cơ của rối loạn khác và ngược lại, phải điều trị tốt tăng huyết áp giúp làm giảm đáng kể các nguy cơ. Vấn đề đặt ra là kết quả điều trị tăng huyết áp không chỉ phụ thuộc vào việc dùng thuốc mà việc điều chỉnh lối sống như: giảm cân nặng, hạn chế muối, tập luyện thể dục đều đặn.

- Tăng hàm lượng các chất lipid (mỡ) trong máu (cholesterol và triglycerid): Các rối loạn lipid máu lại thường đi kèm các nguy cơ tim mạch khác như đái tháo đường, tăng huyết áp, phải thường xuyên xét nghiệm để kiểm soát nồng độ các thành phần lipid máu và nên làm ở tuổi sau 40.

Luyện tập thể dục thường xuyên sẽ ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh tim mạch - Trong ảnh: Người cao tuổi
ở khu dân cư 178 phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều đang tập dưỡng sinh buổi sáng. 

- Hút thuốc lá (kể cả thuốc lào): trong thuốc lá có trên 7.000 chất độc hóa học, gây nhiều căn bệnh nguy hiểm, chết người. Nếu phát hiện mắc các yếu tố gây bệnh tim mạch, phải tuyệt đối không hút thuốc lá và tránh xa khói thuốc lá (hút thuốc lá thụ động).

- Thừa cân/béo phì càng nhiều thì khả năng bị xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo làm nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao. Tốt nhất nên giữ vòng bụng < 90 cm (nam giới) và < 75 cm (nữ giới).

- Đái tháo đường và kháng insulin: những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường type II, có tỷ lệ mới mắc bệnh mạch vành và đột quỵ cao hơn người bình thường. Người bệnh đái tháo đường cũng thường chết vì nguyên nhân tim mạch. Đái tháo đường và đề kháng Insulin làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tăng lắng đọng cholesterol vào mảng vữa xơ động mạch. Hậu quả là bệnh mạch vành, gây tử vong nhanh.

- Lười vận động (lối sống tĩnh tại): Lối sống tĩnh tại được coi là một nguy cơ của các nguy cơ tim mạch. Việc vận động hàng ngày đều đặn ít nhất 30 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Người ta đã chứng minh việc tập luyện thể lực thường xuyên làm giảm nguy cơ xuất hiện nhồi máu cơ tim đồng thời nâng cao khả năng sống sót khi xảy ra nhồi máu cơ tim. Tập luyện cũng có tác động tích cực tới các yếu tố nguy cơ khác. Người ta cho rằng lợi ích của tập luyện là ở việc giảm cân nặng, tăng khả năng dung nạp đường, tăng sức mạnh cơ tim, tăng nồng độ HDL-C, giảm căng thẳng, hạ huyết áp… Các hình thức luyện tập hữu ích là tập đều (hầu hết các ngày), mỗi ngày ít nhất 30 phút, tập đủ mạnh (ấm người, thở hơi nhanh, ra mồ hôi vừa). Vấn đề uống rượu, thực tế với người đang độ tuổi lao động, do nhu cầu giao tiếp, làm ăn thì khó tránh khỏi. Nếu biết điều độ, tức uống không quá một đơn vị mỗi ngày (tương đương 60ml rượu vang, 300 ml bia, hoặc 30 ml rượu mạnh).

Tóm lại: Để điều chỉnh các yếu tố nguy cơ tim mạch, mỗi người phải tự đánh giá là mình thuộc nhóm nguy cơ thấp hay cao. Tự điều chỉnh lối sống: sinh hoạt lành mạnh; ăn uống nhiều rau, quả, cá, giảm các chất béo; luyện tập thể dục thể thao mỗi ngày và kiểm tra sức khỏe định kỳ.

* Các dấu hiệu cảnh báo biến cố tim mạch:

Cơn đau thắt ngực - Nhồi máu cơ tim: Cảm giác giống như bị đè nặng, bóp nghẹt, đầy tức hoặc đau... kéo dài vài phút đến vài chục phút. Cơn đau thường xuất hiện khi gắng sức, đỡ khi nghỉ. Cảm giác khó chịu ở những vị trí khác cũng có thể gặp, như: đau hoặc tức lan ra 1 hay 2 bên cánh tay, hướng ra sau lưng, lên cổ, hàm thậm chí ở vùng dạ dày

Khó thở: có thể xảy ra kèm hoặc không kèm với tức ngực; vã mồ hôi, buồn nôn hay đau đầu.

Chú ý: cần phân biệt dấu hiệu cảnh báo tim mạch với tai biến mạch não. Tai biến mạch máu não có các dấu hiệu: Đột ngột tê hay yếu một bên mặt, tay hoặc chân; đột ngột choáng, nói khó hoặc không hiểu lời người khác nói; đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân. Nếu bị bất kỳ triệu chứng nào trong các dấu hiệu này, hãy gọi người đưa đến bệnh viện gần nhất, tuyệt đối không được tự lái xe đến bệnh viện.

Đình Khôi (lược ghi)

Chia sẻ bài viết