Gia đình có 4 người thì cả 4 bị viêm gan (VG) B. Trong đó, 2 người bị ung thư (UT) gan đã mất. Một người vừa phát hiện bị UT gan. Đây không phải là trường hợp đầu tiên những người trong gia đình đều bị UT gan. Nhiều người lo ngại, liệu UT gan có di truyền và có yếu tố gia đình không?
* Gia đình 4 người, 3 người bị UT gan
Anh H.T.T là giáo viên THCS ở tỉnh Khánh Hòa. Khi bị đau bụng, sốt, mặt nổi mẩn, anh đi khám tại Bệnh viện Y Dược (BVĐHYD) TP Hồ Chí Minh ngày 1-7-2016 và phát hiện bị UT gan (khối u có kích thước 4,5cm). Theo lời anh T., cha anh mất vì đột quỵ. Cách đây 3 năm, mẹ mất vì UT gan. Sau khi mẹ mất 1 năm, em trai cũng mất vì UT gan. Gia đình còn lại 2 người, anh trai anh T. chủ động đi khám và phát hiện bị VGB, đang điều trị. Riêng anh T., cách nay gần 10 năm, phát hiện bị VGB nhưng anh chủ quan, không điều trị, tự mua thực phẩm chức năng, thuốc giải độc gan uống. 2 năm trước, anh có đi khám nhưng không lấy kết quả xét nghiệm và tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ và đến nay khi khám, bệnh tiến triển thành UT gan. Theo các bác sĩ ở BVĐHYD TP Hồ Chí Minh, đây không phải lần đầu tiên gặp trường hợp gia đình có nhiều người bị UT gan. Có trường hợp gia đình 5 người lần lượt qua đời vì UT gan.
 |
|
Nhiều người dân chủ động tiêm ngừa để phòng bệnh viêm gan B và ung thư gan. |
Thạc sĩ, bác sĩ Trần Công Duy Long, Phó khoa Ngoại gan mật tụy, BVĐHYD TP Hồ Chí Minh cho biết, UT gan tuy không di truyền nhưng có thể mẹ bị viêm gan B, C rồi lây truyền cho con nên gia đình nhiễm cùng 1 loại siêu vi; môi trường ăn, uống giống nhau; gien đề kháng cũng giống nhau do thừa hưởng từ bố, mẹ... Vì thế, con đường dẫn đến bệnh tật, rồi tử vong cũng giống nhau. Hai vợ chồng có 1 người nhiễm VGB, VGC, người còn lại nên kiểm tra xem mình có bị không, bởi khả năng lây rất cao.
PGS.TS Bùi Hữu Hoàng, Trưởng khoa Tiêu hóa, BVĐHYD TP Hồ Chí Minh, cho biết: UT gan có 2 nhóm là UT gan nguyên phát (khối u phát triển từ gan) và UT gan thứ phát (UT từ các cơ quan khác, di căn lên gan). UT gan nguyên phát là loại UT thường gặp ở Việt Nam. UT gan phát triển trên nền bệnh nhân có bệnh gan từ trước. Trong đó nguyên nhân bị UT gan đứng đầu là do bệnh VG, phổ biến là VGB và VGC. Theo ước tính tại BVĐHYD TP Hồ Chí Minh, có từ 80% - 90% ca UT gan mà bệnh nhân bị VGB, VGC. UT gan còn phát triển từ bệnh xơ gan do rượu, gan nhiễm mỡ (do không được điều trị tốt, triệt để, diễn tiến thành xơ gan rồi UT gan); bệnh nhân bị ứ sắt trong máu...
* Phòng ngừa, phát hiện sớm UT gan
Ở BVĐHYD TP Hồ Chí Minh, mỗi tháng, các bác sĩ khám gần 1.000 bệnh nhân bị UT gan. Trong đó bệnh nhân bị VGB và VGC chiếm 80% - 90%. Những năm gần đây, mỗi năm, trung bình Việt Nam có trên 10.000 ca mắc UT gan mới và trở thành quốc gia có tỷ lệ người mắc bệnh UT gan hàng đầu thế giới. Nguyên nhân chủ yếu là bệnh nhân bị VG, không điều trị, không theo dõi định kỳ, diễn tiến thành xơ gan, rồi UT gan. Việt Nam nằm trong vùng dịch tễ VGB. Hiện nay, người dân có thể phòng bệnh VGB bằng cách chích ngừa đầy đủ. Vì thế, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã đưa tiêm ngừa vắc - xin VGB vào chương trình tiêm chủng mở rộng để từng bước xóa bỏ căn bệnh này; tiêm ngừa càng sớm, hiệu quả càng cao. Tuy nhiên, một số ít người sau khi tiêm ngừa không có kháng thể. Hiện nay, thế giới có vắc - xin thế hệ thứ 3 (Việt Nam đang sử dụng vắc - xin thế hệ thứ 1-2), đạt hiệu quả cao hơn để tiêm cho những người thuộc diện này. VGB lây truyền qua đường máu, đường tình dục không an toàn và mẹ truyền sang con, trong lúc Việt Nam chưa có vắc- xin thế hệ 3, thì đối tượng này nên áp dụng những biện pháp tránh lây nhiễm trên.
Đa số bệnh gan diễn tiến âm thầm, các bác sĩ khuyến cáo người dân nên tầm soát bệnh VGB và VGC. Nếu phát hiện bệnh thì theo dõi điều trị sớm, bảo vệ gan, không tiến triển thành xơ gan và UT gan. Theo Giáo sư PGS.TS Bùi Hữu Hoàng, từng loại VG có đặc thù và nguyên tắc điều trị khác nhau. Trên thế giới chưa có bước đột phá, điều trị dứt điểm căn bệnh VGB. Vi rút VGB nằm dai dẳng trong cơ thể; có khả năng vào tế bào gan, chui và "núp" trong nhân tế bào. Thuốc chỉ có tác dụng bên ngoài, ức chế sự tổng hợp tạo ra vi rút mới, còn con vi rút vẫn nằm trong tế bào. Khi xét nghiệm, bệnh nhân phát hiện bị VGB nhưng vi rút còn nằm yên thì không nên chủ quan mà cần theo dõi, tái khám định kỳ 3-6 tháng. Khi vi rút trỗi dậy, "đánh" thuốc mới hiệu quả. Đó là lý do vì sao có thời điểm bác sĩ cho dùng thuốc và chưa dùng thuốc. Trái với VGB, bệnh VGC điều trị dễ hơn nhưng không có vắc - xin chủng ngừa. Thời gian gần đây, việc điều trị VGC có bước đột phá. Hiện nay có nhiều thuốc mới, điều trị ngắn ngày, ít tác dụng phụ, hiệu quả trên 90%. Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) mới công nhận loại thuốc điều trị hiệu quả gần 100%. Trong tương lai, Việt Nam cũng sẽ có thuốc này để điều trị cho bệnh nhân.
Để tầm soát, phát hiện sớm UT gan, ở Phòng khám Viêm gan, BVĐHYD TP Hồ Chí Minh, bệnh nhân chưa có triệu chứng bệnh, bị VGB thì định kỳ 6 tháng/lần, cho bệnh nhân siêu âm, xét nghiệm máu (AFP) giúp phát hiện sớm, khi kích thước khối u còn nhỏ. Với kích thước khối u nhỏ, bác sĩ có thể áp dụng các biện pháp như: "hủy" khối u, phẫu thuật nội soi. Khi phát hiện muộn, khối u ở kích thước 5-6cm, không còn cơ hội để điều trị triệt để và chi phí điều trị rất tốn kém. Các bác sĩ khuyên: "Bệnh nhân bị VG nên theo dõi bệnh định kỳ, tránh tình trạng phát hiện muộn, cơ hội điều trị tốt nhất đã lỡ mất".
Bài, ảnh: H.HOA