21/10/2026 - 16:17

Ông Vũ Danh Hiệp, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 21-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Ông Vũ Danh Hiệp, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Ông Vũ Danh Hiệp phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ sáng 21-10.

Qua nghiên cứu Tờ trình số 823/TTr-CP ngày 3-10-2026 của Chính phủ và hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, đại biểu tán thành với sự cần thiết ban hành Luật. Để góp phần hoàn thiện dự thảo, đại biểu đóng góp một số ý kiến như sau:

1. Về kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước (điểm a, điểm b khoản 7, Điều 1 dự thảo Luật)

Điểm a, khoản 7, Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi điểm c, điểm d, khoản 1, Điều 22 thành “c) Quản lý máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá; d) Quản lý nguyên liệu thuốc lá;”, tức là bỏ cụm từ “năng lực” trong quy định hiện hành “Quản lý năng lực máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá”; điểm b sửa đổi khoản 2 Điều 22: “2. Bộ trưởng Bộ Công Thương công bố công khai sản lượng được phép sản xuất và nhập khẩu thuốc lá để tiêu thụ trong nước của từng doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của thị trường”, tức là bỏ tiêu chí “năng lực sản xuất” so với quy định hiện hành. Tờ trình nêu lý do là để doanh nghiệp “chủ động trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư trong dài hạn”.

Đại biểu nhận thấy khoản 3, Điều 4 Luật hiện hành xác định nguyên tắc “hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá phải phù hợp với mục tiêu từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá”. Việc bỏ quản lý “năng lực” máy, thiết bị và lấy “nhu cầu của thị trường” làm tiêu chí duy nhất xác định sản lượng là chuyển từ kiểm soát nguồn cung sang để nguồn cung đi theo nhu cầu, không phù hợp với nguyên tắc trên. Theo Báo cáo số 1338/BC-BYT, giai đoạn 2013-2023 sản lượng thuốc lá điếu nội tiêu giữ ổn định bình quân 4,1 tỉ gói/năm, không giảm, trong khi sản lượng xuất khẩu tăng liên tục, bình quân 1,53 tỉ gói/năm; công cụ chủ yếu để giữ không tăng sản lượng chính là kiểm soát tổng năng lực sản xuất của toàn ngành.

Đáng lưu ý, Chính phủ và cơ quan thẩm tra đã thống nhất giữ quy định kiểm soát sản lượng sản xuất, gia công để xuất khẩu tại khoản 6, Điều 21 vì đây là công cụ cần thiết để kiểm soát quy mô sản xuất; nếu giữ kiểm soát đối với sản lượng xuất khẩu nhưng lại nới tiêu chí đối với sản lượng tiêu thụ trong nước thì thiếu nhất quán. Ngoài ra, việc bỏ cụm từ “giấy cuốn điếu thuốc lá” tại điểm d, khoản 1 và khoản 3, Điều 22 làm mất công cụ kiểm soát một loại vật tư thường được sử dụng để sản xuất thuốc lá lậu, thuốc lá giả. Hồ sơ dự án cũng chưa đánh giá tác động của các sửa đổi này đối với sản lượng và tỷ lệ sử dụng thuốc lá, và nội dung này không thuộc yêu cầu cắt giảm thủ tục hành chính.

Vì vậy, đề nghị giữ nguyên quy định “Quản lý năng lực máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá” tại điểm c, khoản 1, Điều 22, giữ việc quản lý giấy cuốn điếu thuốc lá tại điểm d, khoản 1 và khoản 3, Điều 22, và sửa khoản 2, Điều 22 như sau: “2. Bộ trưởng Bộ Công Thương công bố công khai sản lượng được phép sản xuất và nhập khẩu thuốc lá để tiêu thụ trong nước của từng doanh nghiệp theo lộ trình giảm dần, phù hợp với mục tiêu giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá do Chính phủ ban hành; tổng sản lượng được phép hằng năm không vượt quá tổng sản lượng được phép của năm trước liền kề”. Doanh nghiệp vẫn có thể chủ động lập kế hoạch dài hạn khi lộ trình được công bố trước, đồng thời Nhà nước giữ được công cụ giảm cung mà Luật đã xác định là nguyên tắc. Đại biểu cũng đề nghị Chính phủ bổ sung đánh giá tác động của việc bỏ tiêu chí năng lực sản xuất đối với sản lượng và tỷ lệ sử dụng thuốc lá trước khi Quốc hội quyết định.

2. Về địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng (Điều 12 Luật hiện hành)

Khoản 1, Điều 12 Luật hiện hành cho phép khu vực cách ly của sân bay; quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch; tàu thủy, tàu hỏa có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá; khoản 4 giao “Chính phủ quy định chuyển địa điểm tại khoản 1 Điều này” thành địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà theo từng thời kỳ. Dự thảo Luật không sửa đổi Điều này.

Đại biểu nhận thấy sau 13 năm, Báo cáo tổng kết không ghi nhận việc chuyển địa điểm nào theo khoản 4 Điều 12, dù Báo cáo số 1338/BC-BYT ghi nhận nhiều khách sạn, cơ sở lưu trú đã tự cấm hoàn toàn và thực thi tốt, nhiều nước trong khu vực (Lào, Philippines, Brunei, Thái Lan) đã cấm hoàn toàn tại sân bay, và Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị chỉ cấm tuyệt đối trong không gian công cộng mới bảo vệ được người không hút thuốc. Báo cáo cũng cho thấy vi phạm cao nhất chính là tại nhà hàng, quán cà phê, quán bar, karaoke; Chiến lược theo Quyết định số 568/QĐ-TTg đặt mục tiêu giảm tỷ lệ tiếp xúc thụ động tại quán bar, quán cà phê xuống dưới 70% và tại khách sạn xuống dưới 50% vào năm 2030 - những mức rất cao so với yêu cầu bảo vệ sức khỏe. Việc để Chính phủ quyết định “theo từng thời kỳ” mà không có thời hạn có thể là một nguyên nhân khiến quy định chưa được thực hiện; đây là biện pháp hầu như không tốn ngân sách nhưng tác động trực tiếp đến tiếp xúc thụ động của người lao động và khách hàng.

Vì vậy, đề nghị Chính phủ báo cáo rõ lý do sau 13 năm chưa chuyển địa điểm nào theo khoản 4, Điều 12, đánh giá tác động đối với các nhóm cơ sở kinh doanh, và trên cơ sở đó sửa khoản 4, Điều 12 theo hướng xác định thời hạn cuối cùng: “4. Chính phủ quy định lộ trình chuyển các địa điểm quy định tại khoản 1 Điều này thành địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà, hoàn thành chậm nhất ngày 1 tháng 1 năm 2030, trừ khu vực cách ly của sân bay quốc tế và tàu thủy, tàu hỏa đường dài”. Đồng thời, đề nghị bổ sung trách nhiệm của UBND cấp xã tổ chức kiểm tra định kỳ việc thực hiện quy định cấm hút thuốc lá tại nhà hàng, quán cà phê, cơ sở karaoke trên địa bàn và công khai kết quả. Lộ trình này đủ thời gian để cơ sở kinh doanh chuẩn bị, phù hợp với thực tiễn nhiều cơ sở đã tự thực hiện và với mục tiêu bảo vệ quyền được sống, làm việc trong môi trường không có khói thuốc lá mà dự thảo bổ sung tại khoản 4, Điều 3.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết