21/10/2026 - 16:43

Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 21-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý Dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi).

Bà Phạm Thị Minh Huệ phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ chiều 21-10.

Qua nghiên cứu dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở sửa đổi, đại biểu thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật; việc sửa đổi Luật là để công tác này đạt hiệu quả trong thực tiễn triển khai thực, phù hợp với bối cảnh, yêu cầu mở rộng dân chủ hiện nay, nhất là sau sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Dự thảo Luật đã được Bộ Tư pháp thẩm định tại Báo cáo số 492/BCTĐ-BTP ngày 14-9-2026 báo cáo thẩm định dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, tiếp tục hoàn thiện dự thảo để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và khả thi khi tổ chức thực hiện.

Bên cạnh đó, để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi khi dự thảo Luật được thông qua và tổ chức thực hiện, đại biểu góp ý một số nội dung cụ thể như sau:

1. Về công khai thông tin

Đề nghị rà soát các quy định tại Điều 11 dự thảo Luật và các điều khoản có liên quan để bảo đảm thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 và pháp luật chuyên ngành; xác định rõ thông tin phải công khai, hình thức, thời hạn công khai nhằm tránh quy định chồng chéo với các quy định hiện hành.

Đồng thời, đề nghị nghiên cứu rà soát, cân nhắc sự cần thiết đối với quy định giao Chính phủ quy định chi tiết việc lựa chọn hình thức công khai thông tin khoản 3, Điều 11 dự thảo Luật quy định “3. Chính phủ quy định chi tiết việc lựa chọn hình thức công khai thông tin.”, vì:

Khoản 1, Điều 11 dự thảo Luật đã liệt kê các hình thức công khai thông tin;

Khoản 2, Điều 18 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định “2. Trường hợp pháp luật có quy định về hình thức công khai đối với thông tin cụ thể thì áp dụng quy định đó.

Trường hợp pháp luật không quy định cụ thể hình thức công khai thông tin thì căn cứ vào điều kiện và khả năng thực tế, cơ quan, đơn vị có thể lựa chọn một hoặc một số hình thức công khai thông tin quy định tại khoản 1 Điều này bảo đảm để công dân tiếp cận được thông tin.”, theo đó, Luật đã quy định nguyên tắc lựa chọn hình thức công khai căn cứ điều kiện thực tế khi pháp luật chưa quy định cụ thể.

Vì vậy, nếu tiếp tục giao Chính phủ quy định chi tiết việc lựa chọn hình thức công khai thông tin mà không xác định rõ nội dung cần hướng dẫn thì có thể dẫn đến lặp lại quy định của dự thảo Luật và Luật Tiếp cận thông tin năm 2026. Do đó, nếu không có nội dung thực sự cần hướng dẫn chi tiết thêm, đề nghị bỏ quy định tại khoản 3, Điều 11 dự thảo Luật giao Chính phủ quy định chi tiết để tránh trùng lặp và bảo đảm tính rõ ràng, thống nhất của Luật.

2. Về tỷ lệ thông qua quyết định của cộng đồng dân cư tại khoản 2 và thời điểm công nhận tại khoản 3, Điều 15 dự thảo.

Khoản 2, Điều 15 dự thảo nêu “2. Quyết định của cộng đồng dân cư về nội dung quy định tại điểm a, điểm b, khoản 1, Điều 13 của Luật này được thông qua khi có từ hai phần ba tổng số đại diện hộ gia đình trở lên trong thôn, tổ dân phố tán thành.

 Quyết định của cộng đồng dân cư về nội dung quy định tại điểm a, điểm b, khoản 1, Điều 13 của Luật này có phạm vi thực hiện trong địa bàn cấp xã được thông qua khi có từ hai phần ba tổng số thôn, tổ dân phố trở lên tán thành.

Quyết định của cộng đồng dân cư về nội dung quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 1, Điều 13 của Luật này được thông qua khi có trên 50% tổng số đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành.”

Dự thảo quy định các tỷ lệ thông qua khác nhau tùy nội dung quyết định; đề nghị làm rõ cách xác định tổng số đại diện hộ gia đình tham gia ý kiến trong từng hình thức biểu quyết. Đối với quyết định được thông qua của cộng đồng dân cư cần được công nhận (UBND cấp xã, Ủy ban MTTQVN cấp xã công nhận), cần quy định rõ trách nhiệm thông báo, yêu cầu bổ sung hồ sơ và cách xử lý khi không công nhận, để có cách hiểu và áp dụng thống nhất giữa các địa phương.

3. Về tiêu chuẩn thành viên Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng quy định tại khoản 2, Điều 28 dự thảo Luật

Đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát tiêu chuẩn thành viên để quy định cho phù hợp. Đồng thời, xác định cụ thể, rõ đối với tiêu chuẩn “không có người thân là người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư hoặc đại diện chủ đầu tư, đơn vị tư vấn của chủ đầu tư, nhà thầu dự án hoặc đơn vị tư vấn, giám sát của nhà thầu, người trực tiếp quản lý dự án đầu tư trên địa bàn cấp xã.” tại điểm b, khoản 2, Điều 28 dự thảo Luật để bảo đảm tính khả thi, thống nhất khi áp dụng.

4. Về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân

Đề nghị cơ quan soạn thảo đánh giá đầy đủ ưu điểm, hạn chế của phương án tiếp tục hoặc không tiếp tục tổ chức Ban Thanh tra nhân dân tại cơ quan, đơn vị không có tổ chức công đoàn. Trường hợp không tổ chức Ban Thanh tra nhân dân thì cần làm rõ các cơ chế thay thế để bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, tránh khoảng trống pháp lý trong thực hiện dân chủ.

Đối với quy định về tổ chức Ban Thanh tra nhân dân tại cơ quan, đơn vị có quy mô nhỏ hoặc trường hợp đặc thù tại điểm a, khoản 1, Điều 41 “… Trường hợp đơn vị có từ 15 viên chức, người lao động trở xuống hoặc trong các trường hợp đặc thù thì không tổ chức Ban Thanh tra nhân dân.” đề nghị quy định cụ thể tiêu chí làm cơ sở để xác định “trường hợp đặc thù” và cơ chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khi không tổ chức Ban Thanh tra nhân dân.

5. Quy định chuyển tiếp tại khoản 3, khoản 4, Điều 65 dự thảo Luật

“Ban Thanh tra nhân dân được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ; Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị không có tổ chức công đoàn chấm dứt hoạt động kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động cho đến khi kết thúc chương trình, dự án.

4. Chậm nhất sau 6 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư, các quyết định khác của cộng đồng dân cư được công nhận, thông qua trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành phải được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ để phù hợp với quy định của Luật này. ”

Đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, nghiên cứu, đánh giá tác động của các quy định chuyển tiếp tại khoản 3, khoản 4 điều này, nhất là việc xử lý kiến nghị, vụ việc đang được Ban Thanh tra nhân dân xem xét và việc bảo đảm quyền giám sát trong giai đoạn chuyển tiếp; quy định rõ trách nhiệm, thời hạn và cách thức thực hiện để tránh khoảng trống trong tổ chức thực hiện khi Luật được thông qua và có hiệu lực.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết