Đất nước muốn phát triển không thể thiếu những người dám nghĩ, dám làm, dám đi ra khỏi lối mòn để tìm những con đường mới. Nhìn lại lịch sử, nhiều bước tiến của đất nước bắt đầu từ những người dám đối diện với cái cũ, tìm cách tháo gỡ những ràng buộc không còn phù hợp để mở đường cho thực tiễn.
.webp)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Khoán trong nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) những năm 1960 là một thí dụ. Những thử nghiệm trong nông nghiệp của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc từng gặp không ít trở ngại, thậm chí ông bị kiểm điểm, nhưng thực tiễn đã chứng minh hiệu quả của một cách làm mới, góp phần gợi mở quá trình đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp sau này. Hay công trình đường dây 500 kV bắc-nam, trong bối cảnh còn nhiều ý kiến nghi ngờ về tính khả thi, vẫn được quyết tâm thực hiện và trở thành công trình có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển đất nước. Những câu chuyện ấy cho thấy: Nếu không có người dám bước ra khỏi lối mòn, nhiều cánh cửa phát triển có thể không bao giờ được mở ra.
Nhưng đổi mới không đồng nghĩa với làm khác bằng mọi giá. Không phải mọi hành vi “xé rào” đều là dám nghĩ, dám làm; không phải cứ gắn thêm hai chữ “sáng tạo” là biến một quyết định sai trở nên chính đáng. Ranh giới giữa dám làm vì lợi ích chung và lợi dụng cái chung để phục vụ lợi ích riêng có thể rất mong manh, nhưng không được phép nhập nhằng. Người dám nghĩ, dám làm có thể chấp nhận rủi ro của cái mới, nhưng không thể nhân danh cái mới để mưu lợi, càng không thể vượt qua giới hạn liêm chính.
Đây là vấn đề càng cần được đặt ra khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026 về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết vừa khơi dậy tinh thần đổi mới vì lợi ích chung, vừa yêu cầu phân định rõ giữa rủi ro khách quan, sai sót không cố ý với cố ý vi phạm; giữa đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung với lợi dụng đổi mới để hợp thức hóa sai phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Đáng chú ý, Nghị quyết đặt ra yêu cầu thực hiện nhất quán cơ chế “giao quyền giám sát thực thi-quản trị rủi ro-đánh giá bằng kết quả”, đồng thời kiên quyết xử lý hành vi lợi dụng đổi mới, sáng tạo để vụ lợi.
Tinh thần ấy rất cần thiết. Bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm không có nghĩa là bảo vệ mọi việc họ làm dù sai trái; chấp nhận rủi ro của đổi mới không đồng nghĩa với chấp nhận tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây là ranh giới cần được phân định để không cho phép cá nhân nào được mượn danh “đột phá”, “thí điểm”, “xã hội hóa”, “vì việc chung” để che giấu lợi ích riêng.
Bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm không có nghĩa là bảo vệ mọi việc họ làm dù sai trái; chấp nhận rủi ro của đổi mới không đồng nghĩa với chấp nhận tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây là ranh giới cần được phân định để không cho phép cá nhân nào được mượn danh “đột phá”, “thí điểm”, “xã hội hóa”, “vì việc chung” để che giấu lợi ích riêng.
Nhìn lại vụ việc xảy ra tại Học viện Quân y và Công ty Việt Á, điều đáng suy ngẫm là danh nghĩa nghiên cứu khoa học, sáng tạo và phục vụ chống dịch Covid-19 đã bị lợi dụng, khi phía sau là những hành vi vi phạm nhằm thu lợi. Một việc làm được đặt trong hào quang của khoa học, được tôn vinh, khen thưởng nhưng lại che giấu những sai phạm cho thấy một nguy cơ đáng lo: cái sai có thể khoác lên mình chiếc áo của đổi mới, sáng tạo để vượt qua sự kiểm chứng. Tương tự, chủ trương tự chủ, xã hội hóa, huy động nguồn lực tư nhân để đưa thiết bị hiện đại vào bệnh viện công là hướng đi cần thiết.
Nhưng vụ việc tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy một chủ trương đúng cũng có thể bị biến dạng nếu thiếu kiểm soát. Hệ thống robot Rosa được nhập khẩu với giá khoảng 7,4 tỷ đồng nhưng được đưa vào liên doanh, liên kết với mức giá 39 tỷ đồng; chi phí khấu hao tính cho người bệnh vì thế tăng từ hơn 4 triệu đồng lên khoảng 23 triệu đồng mỗi ca. Hậu quả là hàng trăm người bệnh phải gánh thêm chi phí, tổng thiệt hại được xác định hơn 10 tỷ đồng.
Hai vụ việc khác nhau về lĩnh vực và cách thức, nhưng cùng gợi ra một vấn đề: một chủ trương đúng không tự bảo đảm cho một cách làm là đúng. Khi quyền chủ động được trao mà thiếu kiểm chứng độc lập, khi cơ chế đặc thù không đi cùng trách nhiệm giải trình, khi lợi ích phát sinh không được nhận diện và kiểm soát, khoảng trống quản lý có thể trở thành nơi sai phạm ẩn mình.
Vì vậy, muốn phân biệt đổi mới với lợi dụng đổi mới, không thể chỉ nhìn vào kết quả thành công hay thất bại mà phải nhìn vào mục tiêu, động cơ, cách làm, lợi ích phát sinh, mức độ minh bạch và thái độ của người thực hiện trước sự kiểm tra, giám sát. Một sáng kiến có thể không thành công nhưng nếu được thực hiện vì lợi ích chung, minh bạch, đúng thẩm quyền và không vụ lợi thì cần được nhìn nhận khác với hành vi cố ý làm sai rồi tìm cách hợp thức hóa.
Phòng ngừa phải bắt đầu ngay từ khi một đề xuất được gọi là “đổi mới”. Cần làm rõ mục tiêu, căn cứ, nguồn lực, rủi ro, người chịu trách nhiệm và những lợi ích có thể phát sinh; đồng thời nhận diện, kiểm soát xung đột lợi ích ngay từ đầu. Người đề xuất có thể được trao quyền chủ động, nhưng không thể đồng thời được trao cả quyền tự kiểm chứng. Khâu thẩm định, nghiệm thu, đánh giá kết quả phải đủ độc lập để tránh tình trạng “vừa đánh trống vừa thổi còi”.
Đổi mới cần được đặt trong một không gian có giới hạn và có kiểm soát: được thử nghiệm nhưng phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, thời hạn, tiêu chí đánh giá và điểm dừng; có cơ chế theo dõi, cảnh báo khi rủi ro vượt ngưỡng; có đánh giá độc lập trước khi nhân rộng. Đó chính là cách để trao quyền mà không buông quyền, khuyến khích sáng tạo mà không tạo ra khoảng trống cho lợi ích nhóm.
Bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm không có nghĩa là bảo vệ mọi việc họ làm dù sai trái; chấp nhận rủi ro của đổi mới không đồng nghĩa với chấp nhận tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây là ranh giới cần được phân định để không cho phép cá nhân nào được mượn danh “đột phá”, “thí điểm”, “xã hội hóa”, “vì việc chung” để che giấu lợi ích riêng.
Đổi mới cần được đặt trong một không gian có giới hạn và có kiểm soát: được thử nghiệm nhưng phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, thời hạn, tiêu chí đánh giá và điểm dừng; có cơ chế theo dõi, cảnh báo khi rủi ro vượt ngưỡng; có đánh giá độc lập trước khi nhân rộng. Đó chính là cách để trao quyền mà không buông quyền, khuyến khích sáng tạo mà không tạo ra khoảng trống cho lợi ích nhóm. Tinh thần này phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 24-NQ/TW về gắn phân quyền, bảo vệ cán bộ với quản trị rủi ro, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực.
Song song đó, kiểm tra, giám sát phải chuyển từ hình thức sang thực chất, không chỉ xem hồ sơ đủ thủ tục mà phải làm rõ tiền đi đâu, tài sản được định giá thế nào, chi phí vì sao tăng, đối tượng được hưởng lợi. Không thể máy móc coi mọi khác biệt với quy trình là sai, nhưng cũng không thể nhân danh “sáng tạo” để bỏ qua dấu hiệu bất thường. Phải xem xét cả động cơ, cách làm, lợi ích phát sinh, hậu quả và trách nhiệm giải trình.
Quan trọng hơn, phải kịp thời nhận diện và ngăn chặn việc lợi dụng cơ chế đổi mới để che giấu sai phạm. Những biểu hiện như nâng giá, che giấu thông tin, xung đột lợi ích, cố tình bỏ qua quy định hoặc lợi dụng cơ chế bảo vệ cán bộ để trục lợi phải được làm rõ và xử lý nghiêm. Xử lý người lợi dụng đổi mới không phải để cản trở người dám làm, mà để giữ cho người dám làm vì lợi ích chung không bị đánh đồng với người mượn danh đổi mới để vụ lợi.
Nếu không làm rõ ranh giới ấy, một nghịch lý rất nguy hiểm có thể xuất hiện: Người làm đúng vì lợi ích chung trở nên dè dặt, còn người làm sai lại tìm được một vỏ bọc để che giấu hành vi của mình. Khi đó, chính sách khuyến khích đổi mới sẽ bị tổn thương từ bên trong, niềm tin vào những chủ trương đúng đắn cũng có thể bị bào mòn bởi người đã lợi dụng nó. Đổi mới là để mở đường cho cái mới, làm cho những điều tốt đẹp có thêm cơ hội được thực hiện. Nhưng dù đổi mới đến đâu, vẫn phải giữ được giới hạn của trách nhiệm và liêm chính.
CÙ TẤT DŨNG (Báo Nhân dân)