19/10/2026 - 13:58

Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Luật sư (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 19-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Luật sư (sửa đổi).

Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ sáng 19-10.

Điểm i, khoản 1, Điều 6 dự thảo quy định:

“Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Nghiêm cấm luật sư thực hiện các hành vi sau đây:

i) Từ chối hoặc không thực hiện vụ việc đã đảm nhận theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tổ chức trợ giúp pháp lý mà không có lý do chính đáng, căn cứ pháp luật hoặc thuộc trường hợp bất khả kháng”.

Quy định nghiêm cấm Luật sư từ chối vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tổ chức trợ giúp pháp lý phân công mà không có lý do chính đáng. Tuy nhiên, dự thảo chưa làm rõ cơ chế bảo vệ luật sư trong trường hợp luật sư bị ép buộc nhận vụ việc có xung đột lợi ích nội bộ, hoặc khi thù lao, chi phí do Nhà nước chi trả cho các vụ án chỉ định quá thấp không đủ bảo đảm chi phí hoạt động tối thiểu. Do đó, kiến nghị bổ sung quy định rõ hơn về tiêu chí “lý do chính đáng” hoặc điều kiện từ chối khi có xung đột lợi ích hoặc khi điều kiện sức khỏe, năng lực chuyên môn không phù hợp với vụ án đặc biệt phức tạp.

Khoản 3, khoản 4 Điều 8, khoản 5 Điều 9 dự thảo quy định:

“3. Người thuộc trường hợp sau đây thì được miễn thời gian đào tạo nghề luật sư, trừ trường hợp quy định tại khoản 2, Điều 7 của Luật này:

a) Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 5 năm trở lên;

b) Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sĩ luật;

c) Đã là thẩm tra viên cao cấp ngành Toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành Kiểm sát; chuyên viên cao cấp, pháp chế viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp, chấp hành viên cao cấp, thanh tra viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật từ 5 năm trở lên.

4. Người thuộc trường hợp sau đây được giảm 6 tháng thời gian đào tạo nghề luật sư, trừ trường hợp quy định tại khoản 2, Điều 7 của Luật này:

a) Đã là thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát từ 10 năm trở lên;

b) Đã là chuyên viên chính, pháp chế viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính, chấp hành viên chính, thanh tra viên chính trong lĩnh vực pháp luật từ 10 năm trở lên”.

Các ngạch chức danh như thẩm tra viên, kiểm tra viên, chuyên viên, pháp chế viên, thanh tra viên... chủ yếu thực hiện công việc hành chính tư pháp hoặc tham mưu nội bộ, ít kinh nghiệm về tranh tụng và cung cấp dịch vụ pháp lý độc lập. Việc miễn hoàn toàn hoặc giảm thời gian đào tạo cho các đối tượng này làm giảm chất lượng chung của đội ngũ Luật sư. Do đó, kiến nghị bỏ quy định miễn, giảm đào tạo và tập sự đối với nhóm chuyên viên, thẩm tra viên, pháp chế viên. Chỉ nên xem xét miễn, giảm cho thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên có thâm niên từ 8-10 năm trở lên.

Điểm b, khoản 5, Điều 10 dự thảo quy định:

“Điều 10. Hội đồng tuyển chọn luật sư

5. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư hoặc không đủ điều kiện được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư:

b) Đang là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân (sau đây gọi chung là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan), trừ giảng viên trong lĩnh vực pháp luật tại cơ sở đào tạo đại học chuyên ngành về pháp luật hoặc cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp”.

Việc sử dụng cụm từ “cơ sở đào tạo đại học chuyên ngành về pháp luật” dễ dẫn đến cách hiểu trong phạm vi hẹp, chỉ bao gồm các Trường Đại học Luật chuyên biệt như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, vô tình loại trừ giảng viên luật thuộc các Khoa Luật của các Trường Đại học đa ngành như Đại học Quốc gia, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Ngoại thương.... Do đó, đề xuất điều chỉnh thành “giảng viên giảng dạy chuyên ngành pháp luật tại các cơ sở giáo dục đại học hoặc cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp".

Khoản 1 Điều 18 dự thảo quy định:

“Điều 18. Cung cấp dịch vụ pháp lý

1. Tổ chức hành nghề luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý có thu thù lao theo hợp đồng dịch vụ pháp lý ký với khách hàng. Hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được lập thành văn bản và được ký trước khi tổ chức hành nghề luật sư thực hiệ dịch vụ, trừ trường hợp cấp bách để bảo vệ quyền lợi của khách hàng thì có thể thỏa thuận bằng lời nói nhưng phải được lập thành văn bản trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận vụ việc…”.

Quy định cho phép thỏa thuận bằng lời nói trong trường hợp cấp bách nhưng phải lập thành văn bản trong thời hạn 2 ngày làm việc. Khoảng thời gian 2 ngày làm việc là quá ngắn đối với các vụ án hình sự bắt khẩn cấp, tạm giam ở vùng sâu, vùng xa hoặc khi luật sư phải di chuyển liên tục. Do đó, đề xuất nới rộng thời hạn này lên 5 ngày làm việc để bảo đảm tính khả thi.

Điểm b khoản 1 Điều 19 dự thảo quy định:

“Điều 19. Hình thức tổ chức hành nghề luật sư

1. Tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam bao gồm:

b) Công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn.

Công ty luật hợp danh do ít nhất 2 luật sư thành lập. Các luật sư thành viên hợp danh chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty luật hợp danh. Công ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn.

Công ty luật trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do 1 luật sư thành lập, làm chủ sở hữu, là người đại diện theo pháp luật và là người đứng đầu công ty. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất 2 luật sư thành lập, có thể có thành viên góp vốn khi công ty này đáp ứng điều kiện về quy mô, thời gian hoạt động, tỷ lệ vốn góp theo quy định của Chính phủ. Thành viên góp vốn không được làm người đại diện theo pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý, tham gia hoạt động điều hành về chuyên môn, không can thiệp vào hoạt động hành nghề độc lập của luật sư, không tiếp cận bí mật khách hàng; không xung đột lợi ích.

Các thành viên công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn hoặc tỷ lệ khác theo quy định tại Điều lệ công ty. Quyền và nghĩa vụ của luật sư thành viên, thành viên góp vốn, cơ cấu tổ chức, hoạt động của công ty được quy định trong Điều lệ công ty”.

Đây là điểm mới nhằm thu hút vốn đầu tư và nguồn lực tài chính cho tổ chức hành nghề luật sư. Tuy nhiên, bản chất của dịch vụ luật sư là dịch vụ tư vấn dựa trên uy tín và trách nhiệm cá nhân độc lập. Việc cho nhà đầu tư ngoài ngành (không phải luật sư) góp vốn vào công ty luật trách nhiệm hữu hạn dễ dẫn đến rủi ro việc nhà đầu tư chi phối thương mại hóa hoạt động tư pháp, can thiệp ngầm vào tính độc lập của luật sư khi tư vấn. Đề xuất nghiên cứu quy định rõ: Thành viên góp vốn bắt buộc phải là Luật sư (có Chứng chỉ hành nghề luật sư) hoặc quy định trần tỷ lệ góp vốn của thành viên không phải luật sư không vượt quá 20-30% tổng số vốn điều lệ, đồng thời bổ sung cơ chế kiểm soát cho phù hợp.

Điểm b, khoản 3, Điều 20 dự thảo quy định:

“Điều 20. Cấp, cấp lại, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức hành nghề luật sư

3. Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

b) Không đăng ký mã số thuế trước khi cung cấp dịch vụ pháp lý hoặc trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động”.

Quy định thu hồi giấy đăng ký hoạt động nếu tổ chức hành nghề không đăng ký mã số thuế trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động là quá dài đối với thủ tục đăng ký mã số thuế doanh nghiệp, tổ chức hành nghề theo pháp luật về quản lý thuế. Đề xuất nghiên cứu rút ngắn thời hạn này.

Khoản 1, Điều 23 dự thảo quy định:

“Điều 23. Hoạt động của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân

1. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư; trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động cho nhiều cơ quan, tổ chức thì phải được sự đồng ý của các cơ quan, tổ chức ký hợp đồng lao động.

Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng theo sự phân công của Đoàn Luật sư nơi luật sư là thành viên.

Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc tại các Trung tâm tư vấn pháp luật được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức là khách hàng của Trung tâm mà mình đã ký hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật”.

Quy định chưa rõ ràng đối với trường hợp luật sư làm việc cho tập đoàn, tổng công ty có nhiều công ty con, công ty liên kết. Nếu chỉ được cung cấp dịch vụ cho “cơ quan, tổ chức đã ký hợp đồng lao động” như công ty mẹ, thì khi luật sư này thực hiện công việc pháp lý bảo vệ quyền lợi cho công ty con trong cùng tập đoàn sẽ bị xem là vi phạm điều cấm. Đề xuất nghiên cứu, bổ sung nội dung “Trường hợp luật sư ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp, tổ chức thì được quyền thực hiện dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp, tổ chức đó và các đơn vị thành viên, công ty con thuộc cùng tập đoàn, hệ thống tổ chức theo sự phân công của doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động".

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết