Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 19-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Nuôi con nuôi (sữa đổi).

Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ sáng 19-10.
Điều 13 dự thảo quy định:
“Điều 13. Điều kiện của người được nhận làm con nuôi
1. Trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em mồ côi cả cha và mẹ; trẻ em không nơi nương tựa theo quy định của pháp luật về trẻ em.
2. Người dưới 18 tuổi thuộc trường hợp nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình”.
Thực tế có trường hợp trẻ em còn cha hoặc mẹ đẻ (hoặc cả cha lẫn mẹ) nhưng cha, mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự, bị bệnh tâm thần, đang chấp hành án tù chung thân, tử hình, hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không thể nuôi dưỡng con. Đề xuất nghiên cứu bổ sung, mở rộng quy định cho phép nhận làm con nuôi đối với trường hợp “Trẻ em có cha, mẹ đẻ nhưng cha, mẹ đẻ bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con, hoặc thuộc trường hợp không có khả năng thực tế để nuôi dưỡng con theo xác nhận của cơ quan có thẩm quyền” nhằm bảo đảm trẻ em không bị bỏ lại phía sau.
Điểm đ, khoản 3, Điều 14 dự thảo quy định những người không được nhận con nuôi:
“đ) Đã từng bị kết án về một trong các tội được quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; tội loạn luân; tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình; tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp; các tội được quy định tại Chương các tội phạm về ma túy; các tội được quy định tại Chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội được quy định tại Chương các tội phạm an ninh quốc gia của Bộ luật Hình sự”.
Việc liệt kê hàng loạt các Chương tội phạm là cần thiết để bảo vệ tuyệt đối an toàn cho trẻ em. Tuy nhiên, quy định này cần có quy định loại trừ hoặc quy định rõ thời hạn được xóa án tích. Trường hợp một người đã từng phạm tội ít nghiêm trọng từ nhiều năm trước, đã được xóa án tích và phục hồi quyền công dân, việc cấm vĩnh viễn họ nhận con nuôi có thể đi ngược lại chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và làm mất đi cơ hội có mái ấm gia đình của nhiều trẻ em. Do đó, đề xuất điều chỉnh thành “đ) Đã từng bị kết án về tội phạm cố ý... mà chưa được xóa án tích” hoặc giới hạn cụ thể các tội phạm về xâm hại trẻ em, buôn bán người sẽ không được nhận nuôi con nuôi.
Khoản 1, Điều 17 dự thảo quy định:
“1. Thứ tự ưu tiên lựa chọn người nhận con nuôi được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
b) Công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;
c) Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
d) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
đ) Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài”.
Dự thảo còn thiếu phân loại ưu tiên đối với người thân thích khác: điểm a chỉ liệt kê cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột. Trường hợp người thân thích khác trong dòng họ như anh, chị, em họ hoặc người có quan hệ họ hàng xa hơn nhưng có gắn bó tình cảm từ nhỏ lại đưa xuống xếp ngang với công dân Việt Nam xa lạ tại điểm b. Do đó, đề xuất bổ sung quy định “Người thân thích khác của người được nhận làm con nuôi” vào hàng ưu tiên ngay sau điểm a và trước điểm b, nhằm triệt để thực hiện nguyên tắc “Ưu tiên trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc…” quy định tại khoản 2, Điều 4 dự thảo.
Khoản 4, Điều 21 dự thảo quy định yêu câu đối với sự đồng ý cho làm con nuôi
“4. Cha, mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày”. Quy định khoảng thời gian chờ 15 ngày sau khi sinh là một điểm tiến bộ nhằm bảo vệ quyền lợi của người mẹ trước các quyết định bồng bột do khủng hoảng tâm lý sau sinh. Tuy nhiên, cần nghiên cứu trường hợp ngoại lệ đối với các trường hợp đặc biệt như trẻ em bị bỏ rơi ngay sau khi sinh mà không tìm được thân nhân, hoặc mẹ đẻ bị bệnh hiểm nghèo, tử vong sau sinh,… để có hướng giải quyết kịp thời.
Khoản 1 Điều 22 dự thảo quy định:
“1. Định kỳ 06 tháng một lần trong thời hạn 3 năm kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha, mẹ nuôi có trách nhiệm báo cáo tình hình phát triển của con nuôi cho Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp cha, mẹ nuôi và con nuôi cư trú tại Việt Nam; báo cáo cho cơ quan đại diện đối với trường hợp cha, mẹ nuôi và con nuôi tạm trú ở nước ngoài; báo cáo cho Bộ Tư pháp và cơ quan đại diện đối với trường hợp cha, mẹ nuôi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài, con nuôi thường trứ ở nước ngoài”. Quy định này rất chặt chẽ đối với giai đoạn đầu. Tuy nhiên, đối với nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình như cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ, chồng, hoặc cô, cậu, dì, chú, bác nhận cháu ruột, việc áp dụng chế độ báo cáo định kỳ 6 tháng trong 3 năm là quá hình thức, không cần thiết cho các gia đình có quan hệ huyết thống, hôn nhân gắn bó chặt chẽ sẵn có. Do đó, đề xuất có quy định việc miễn hoặc có chế độ theo dõi riêng biệt đối với nhóm nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình.
Điểm c, khoản 1, Điều 23 dự thảo quy định:
“c) Việc giải quyết nuôi con nuôi không được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tại thời điểm giải quyết việc nuôi con nuôi, trừ trường hợp việc hủy bỏ, thu hồi quyết định nuôi con nuôi ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bình thường của con nuôi;”. Nhận thấy cụm từ “ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bình thường của con nuôi" mang tính định tính, rất khó áp dụng thống nhất trong thực tiễn hành chính và tố tụng. Đề xuất nghiên cứu giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể để đánh giá việc “ảnh hưởng nghiêm trọng” dựa trên căn cứ về tâm lý, y tế, môi trường sống, thời gian trẻ đã gắn bó với cha mẹ nuôi hoặc thành lập hội đồng đánh giá độc lập đối với trẻ trước khi hủy bỏ, thu hồi quyết định nuôi con nuôi
Khoản 1, Điều 29, dự thảo quy định:
“… Việc nuôi con nuôi bị chấm dứt trong các trường hợp cả cha và mẹ nuôi chết khi con nuôi chưa thành niên theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 27 của Luật này thì con nuôi chưa thành niên vẫn được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật đối với di sản do cha, mẹ nuôi để lại theo quy định của pháp luật về dân sự”. Quy định này bảo vệ rất tốt quyền lợi về tài sản cho con nuôi khi cha mẹ nuôi chết. Tuy nhiên, cần nghiên cứu bổ sung quy định làm rõ về tư cách đại diện và quản lý tài sản, cũng như trách nhiệm của người giám hộ đương nhiên, người quản lý di sản trong khoảng thời gian từ khi cha mẹ nuôi chết đến khi Tòa án ra quyết định chấm dứt hoặc giải quyết xong các vấn đề về tài sản, tránh tranh chấp phát sinh giữa con nuôi và họ hàng của cha mẹ nuôi.
Khoản 3, Điều 30 dự thảo giao Chính phủ quy định chi tiết một khối lượng điều khoản rất lớn (từ điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục đến các vấn đề về tài chính, tổ chức con nuôi nước ngoài). Đề nghị cân nhắc nâng một số nội dung cốt lõi về trình tự, thủ tục trọng yếu quy định trong Luật để bảo đảm tính minh bạch và ổn định của văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm văn bản được triển khai áp dụng nhanh chóng, kịp thời.
PV (lược ghi)