19/10/2026 - 12:26

Ông Vũ Danh Hiệp, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 19-10, sau khi nghe các tờ trình và báo cáo thẩm tra, Quốc hội thảo luận ở tổ. Ông Vũ Danh Hiệp, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý về Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).

Ông Vũ Danh Hiệp, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, phát biểu tại phiên thảo luận ở tổ sáng 19-10.

Đại biểu Vũ Danh Hiệp cơ bản tán thành với sự cần thiết ban hành Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) thay thế Luật Nuôi con nuôi số 52/2010/QH12 nhằm thực hiện Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 25-12-2023 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, đồng thời tiếp tục nội luật hóa Công ước La Hay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và Hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế mà Việt Nam là thành viên từ ngày 1-2-2012. 

Về khoản tiền bù đắp chi phí, thù lao và kiểm soát xung đột lợi ích tại cơ sở trợ giúp xã hội (khoản 3, khoản 4 - Điều 12; Điều 11; khoản 2, Điều 21; khoản 3, Điều 24)

Khoản 3, Điều 12 dự thảo quy định người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em sống tại cơ sở trợ giúp xã hội làm con nuôi “phải nộp một khoản tiền để bù đắp một phần chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ khi ghép trẻ đến khi hoàn thành thủ tục giao nhận con nuôi và thù lao hợp lý cho nhân viên của cơ sở trợ giúp xã hội”; khoản 4, Điều 12 chỉ cấm đặt thêm khoản thu khác đối với hoạt động “giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài”; khoản 2, Điều 21 quy định đại diện cơ sở trợ giúp xã hội “phải thể hiện ý kiến đồng ý về việc cho trẻ em làm con nuôi”; khoản 3, Điều 24 quy định người làm công tác xã hội “được hưởng thù lao theo từng trường hợp cụ thể”.

Đại biểu nhận thấy khoản tiền tại khoản 3, Điều 12 là khoản bắt buộc (“phải nộp”) nhưng Luật chưa xác định bản chất pháp lý là phí, giá dịch vụ hay khoản đóng góp, chưa xác định chủ thể được thu là cơ sở công lập hay cả cơ sở ngoài công lập, chưa có nguyên tắc xác định mức thu và cơ chế quản lý, sử dụng, toàn bộ được giao Chính phủ quy định chi tiết (khoản 3, Điều 30). Báo cáo số 454/BC-BTP đánh giá cơ chế lệ phí và chi phí “cơ bản phù hợp” nhưng không cung cấp số liệu về mức thu, tổng số thu và cơ cấu chi của khoản tiền này trong 15 năm, do đó chưa có cơ sở để đánh giá tính hợp lý.

Đáng chú ý, cùng một cơ sở trợ giúp xã hội vừa có trách nhiệm đề nghị chuyển trẻ em sang hình thức nuôi con nuôi (khoản 1, Điều 11), vừa thể hiện ý kiến đồng ý cho trẻ em làm con nuôi (khoản 2 Điều 21), vừa hỗ trợ người nhận con nuôi tiếp xúc với trẻ em (khoản 2, Điều 11), lại vừa được nhận tiền gắn với từng hồ sơ cụ thể, trong đó có “thù lao cho nhân viên”. Đây là cấu trúc xung đột lợi ích rõ rệt, nhất là khi 69,99% trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài (3.410/4.872 trẻ em) đang sống tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Bên cạnh đó, Dự thảo mở rộng ghép trẻ sang nuôi con nuôi trong nước nhưng khoản 4, Điều 12 không cấm các khoản thu ngoài quy định đối với trường hợp này, Điều 5 cũng chưa có hành vi cấm riêng về đòi, nhận, đưa tiền hoặc lợi ích vật chất. Đối với thù lao của người làm công tác xã hội, Tờ trình số 758/TTr-CP ước tính 2,5 tỉ đồng/năm do ngân sách địa phương chi trả, song khoản 3, Điều 24 không xác định nguồn chi trả; trong khi người làm công tác xã hội theo khoản 1, Điều 24 bao gồm cả người làm công tác bảo vệ trẻ em, công tác văn hóa - xã hội cấp xã, là người trực tiếp đánh giá hoàn cảnh của người nhận con nuôi. Nếu thù lao do người nhận con nuôi chi trả thì người đánh giá lại nhận tiền từ chính người được đánh giá. Công ước La Hay năm 1993 cho phép thu chi phí và thù lao chuyên môn hợp lý nhưng yêu cầu không ai được thu lợi tài chính không chính đáng (Điều 32) và sự đồng ý cho làm con nuôi không được có được nhờ thanh toán hay đền bù dưới bất kỳ hình thức nào (điểm c, khoản 4, Điều 4); vấn đề của Dự thảo vì vậy không nằm ở việc có thu hay không, mà ở chỗ thiếu tiêu chí minh bạch và cơ chế kiểm soát ngay trong Luật.

Vì vậy, đại biểu đề nghị sửa khoản 3, Điều 12 theo hướng: “Khoản tiền bù đắp chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em được xác định theo định mức chi phí thực tế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố công khai; được nộp bằng phương thức chuyển khoản vào tài khoản của cơ sở trợ giúp xã hội và được quyết toán sau khi hoàn thành việc giao nhận con nuôi. Khoản thu của cơ sở trợ giúp xã hội công lập được quản lý theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về giá”, đồng thời bỏ cụm từ “thù lao hợp lý cho nhân viên của cơ sở trợ giúp xã hội” vì chi phí nhân sự đã được tính trong định mức chi phí, không phân bổ trực tiếp cho cá nhân.

Sửa khoản 4, Điều 12 để áp dụng chung cho mọi trường hợp nuôi con nuôi và bổ sung vào Điều 5 hành vi bị cấm: “Đòi, nhận, đưa tiền hoặc lợi ích vật chất, phi vật chất khác ngoài các khoản quy định tại Điều 12 của Luật này để ghép trẻ, đồng ý cho trẻ em làm con nuôi hoặc ưu tiên giải quyết hồ sơ”.

Sửa khoản 3, Điều 24 theo hướng thù lao của người làm công tác xã hội do ngân sách nhà nước chi trả theo phân cấp, người nhận con nuôi không phải chi trả; người tham gia đánh giá điều kiện của người nhận con nuôi không được nhận bất kỳ khoản tiền nào từ người đó. Bổ sung vào khoản 2, Điều 21 quy định ý kiến đồng ý của đại diện cơ sở trợ giúp xã hội phải được cơ quan quản lý cơ sở xác nhận và cập nhật vào cơ sở dữ liệu về nuôi con nuôi. Việc chi tiêu nguồn thu của cơ sở trợ giúp xã hội phải được công khai hằng năm. Quy định này không làm tăng chi phí của người dân, nhưng bảo đảm dòng tiền minh bạch, phù hợp với điểm a, khoản 1, Điều 5 và khoản 2, Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15, đồng thời giữ uy tín của Việt Nam trong quan hệ hợp tác nuôi con nuôi quốc tế.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết