19/10/2026 - 07:55

Tạo cơ sở pháp lý, đưa hoạt động bổ trợ tư pháp ngày càng chuyên nghiệp 

Trong tiến trình đẩy mạnh cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, hoàn thiện thể chế bổ trợ tư pháp giữ vai trò then chốt. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng năm 2026, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2027, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ nhằm nâng cao an toàn pháp lý, giảm thiểu tranh chấp từ gốc và tạo đà cho chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động tư pháp.

Người dân làm thủ tục công chứng tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thanh Đình (chuyển đổi từ Phòng Công chứng số 1). 

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền

Điểm mới trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng năm 2026 là tinh thần phân cấp, phân quyền triệt để cho chính quyền địa phương, gắn liền với việc chuẩn hóa tổ chức và hoạt động công chứng. Khoản 1, khoản 2 của Điều 2 quy định công chứng viên là người do chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm để hành nghề và thực hiện một số nhiệm vụ chứng thực theo quy định của pháp luật. Đồng thời, các quy định tại khoản 1 của Điều 13, khoản 3 của Điều 16 và khoản 4 của Điều 17 phân cấp chủ tịch UBND cấp tỉnh có toàn bộ thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm và bổ nhiệm lại công chứng viên. Việc công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài cũng được giao chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi người đó cư trú theo khoản 6, Điều 11. Quy định mới này giúp giảm bớt thủ tục hành chính trung gian, nâng cao tính chủ động của địa phương và giúp công tác quản lý cán bộ sát sao, phù hợp với thực tiễn từng địa bàn.

Bên cạnh đó, Điều 19 quy định UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng, đồng thời xem xét quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực giao dịch của chủ tịch UBND cấp xã cho tổ chức hành nghề công chứng tại những địa bàn đã phát triển đủ điều kiện. Việc này giúp giảm tải áp lực công việc hành chính cho bộ máy chính quyền cơ sở, nâng cao tính chuyên nghiệp và bảo đảm độ an toàn pháp lý cao hơn cho các giao dịch trong nhân dân.

Để tháo gỡ khó khăn về dịch vụ công chứng tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, khoản 1 của Điều 23 cho phép thành lập văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân tại các đơn vị hành chính cấp xã có mật độ dân số thấp, cơ sở hạ tầng và dịch vụ chưa phát triển. Danh mục các xã này do UBND cấp tỉnh trực tiếp quyết định. Chính sách này bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ bổ trợ tư pháp một cách bình đẳng, thuận lợi, khắc phục tình trạng “khoảng trống” dịch vụ pháp lý ở cơ sở.

Luật cũng minh bạch các giao dịch quan trọng. Cụ thể tại Điều 3 quy định rõ giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia chặt chẽ và mức độ an toàn pháp lý cao. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì rà soát, cập nhật và công khai danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ để người dân, doanh nghiệp dễ dàng tra cứu, thực hiện đúng quy định.

Đảm bảo an toàn pháp lý cho người dân

Điều 66 quy định về Cơ sở dữ liệu công chứng tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng. Hệ thống bao gồm dữ liệu về công chứng viên, tổ chức hành nghề, giao dịch đã công chứng, tình trạng giao dịch của tài sản, biện pháp ngăn chặn, rủi ro và văn bản công chứng. Cơ sở dữ liệu công chứng được kết nối, chia sẻ liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.

Quy trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ công chứng theo Điều 42 có sự thay đổi căn bản dựa trên việc liên thông dữ liệu. Khoản 7a của Điều 42 nêu rõ: trường hợp thông tin trong thành phần hồ sơ đã có trong cơ sở dữ liệu được công bố, người yêu cầu công chứng không phải cung cấp giấy tờ chứa thông tin đó. Công chứng viên chủ động khai thác dữ liệu để giải quyết hồ sơ và không yêu cầu xuất trình bản chính giấy tờ để đối chiếu. Quy định mới giúp tiết kiệm thời gian, chi phí của người dân, đồng thời ngăn chặn hiệu quả hành vi gian lận, làm giả giấy tờ tài sản.

Luật cũng bổ sung nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham gia giao dịch và nâng cao trách nhiệm phối hợp liên ngành. Điều 57 hoàn thiện quy trình công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng, bảo đảm tính linh hoạt nhưng vẫn chặt chẽ về mặt pháp lý. Mặt khác, khoản 3 của Điều 68 siết chặt quy trình cung cấp hồ sơ công chứng cho các cơ quan tiến hành tố tụng, quy định rõ thời hạn bàn giao bản gốc văn bản công chứng tối đa là 10 ngày làm việc khi phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Sự hoàn thiện của hoạt động công chứng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ hệ thống tư pháp. Khi các giao dịch dân sự, kinh tế, bất động sản được bảo vệ an toàn ngay từ khâu phát sinh, các tranh chấp sẽ được phòng ngừa hiệu quả từ gốc, trực tiếp giảm tải áp lực thụ lý và giải quyết án cho tòa án các cấp. Đồng thời tạo động lực mới, đưa hoạt động bổ trợ tư pháp ngày càng chuyên nghiệp, phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân.

Bài, ảnh: PHI YẾN

Chia sẻ bài viết