Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 19-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Ông Lê Minh Nam, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, có những ý kiến góp ý về Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).

Ông Lê Minh Nam, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, phát biểu tại phiên thảo luận ở tổ sáng 19-10.
Đại biểu Lê Minh Nam nhất trí với sự cần thiết sửa đổi và thông qua Luật tại kỳ họp thứ Hai. Cơ quan chủ trì soạn thảo đã chuẩn bị bộ hồ sơ rất đầy đủ, toàn diện với 16 đầu mục tài liệu và 4 phụ lục cung cấp thông tin để đại biểu Quốc hội nghiên cứu cho ý kiến. Cơ quan chủ trì thẩm tra đã có ý kiến đánh giá đầy đủ, toàn diện các nội dung dự thảo Luật.
Qua nghiên cứu hồ sơ Luật, đại biểu đóng góp 2 ý kiến:
Thứ nhất, về chuyển thẩm quyền “đăng ký” nuôi con nuôi sang “quyết định việc nuôi con nuôi” (Điều 16): Đề nghị làm rõ nội hàm và tác động của quy định chuyển thẩm quyền “đăng ký” nuôi con nuôi sang “quyết định việc nuôi con nuôi” về cho cấp xã tại Điều 16 dự thảo Luật (thay thế Điều 9 Luật hiện hành), trong khi không còn vai trò của cơ quan chuyên môn là Sở Tư pháp như Luật hiện hành, đồng thời đảm bảo khả năng, điều kiện thực hiện của cấp xã cho đảm bảo tính chuyên môn của quy định này.
Với ý kiến này, Báo cáo thẩm tra cũng đã kiến nghị tại mục 6.2. Về phân quyền, phân cấp: Đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, làm rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp, yêu cầu về năng lực và điều kiện thực hiện, nhất là tại cấp xã và khu vực biên giới, bảo đảm phân quyền, phân cấp gắn với khả năng thực hiện. Tuy nhiên vẫn rất cần nghiên cứu cụ thể để làm sao thuận lợi cho khâu tổ chức thi hành.
Đại biểu cho rằng, chủ trương phân cấp phân quyền rất đúng, đã và đang phát huy hiệu quả rất tích cực. Việc chuyển hoặc phân cấp thẩm quyền giải quyết, quyết định việc nuôi con nuôi về cho UBND cấp xã giúp thủ tục đến gần hơn với người dân, nhưng cũng đặt ra một số khó khăn, vướng mắc cần lưu ý để có hướng dẫn chi tiết hơn và chủ động có sự chuẩn bị giúp cho tổ chức thực hiện khi Luật có hiệu lực được thuận lợi. Có thể xem xét một số khó khăn, vướng mắc sau:
Năng lực chuyên môn của cán bộ cấp xã: Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều đầu việc và khối lượng công việc lớn. Việc thẩm định hồ sơ nuôi con nuôi (đặc biệt là xác minh nguồn gốc trẻ bị bỏ rơi, điều kiện kinh tế, tâm lý, hoặc các yếu tố phức tạp) đòi hỏi nghiệp vụ sâu, trong khi trình độ cán bộ ở một số xã, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế.
Khó khăn trong xác minh nguồn gốc và phối hợp: Công an cấp xã và các cơ quan liên quan phải xác minh rõ ràng nguồn gốc trẻ em bị bỏ rơi, đối chiếu các dấu hiệu pháp lý, theo đó việc kết luận chính xác rất cần hướng dẫn liên ngành chi tiết.
Lưu ý thêm việc xác định thủ tục hành chính và giấy tờ đi kèm vì người dân có thể gặp trở ngại khi phải chuẩn bị phiếu lý lịch tư pháp, giấy khám sức khỏe dễ dẫn đến tâm lý e ngại hoặc tự ý đưa trẻ về nuôi mà không đăng ký.
Công tác hậu kiểm và theo dõi sau khi nhận nuôi cũng cần phải bố trí nhân lực, nguồn lực để tổ chức thực hiện.
Vì vậy, liệu có cần có thêm quy định chi tiết trong văn bản hướng dẫn Luật về công tác phối hợp tổ chức thực hiện và xác định các nguồn tài lực vật lực cần thiết để xử lý các khó khăn nêu trên hay không - đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét thêm.
Thứ hai, để đảm bảo phân cấp phân quyền hiệu quả, ngoài bố trí nguồn lực rất cần thiết thì:
(1) Phải khai thác tối đa chuyển đổi số, và kết nối dữ liệu: Số hóa và kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, lý lịch tư pháp, y tế để giảm bớt giấy tờ hành chính rườm rà cho người dân- rất cần quy định trách nhiệm phối hợp và dữ liệu khai thác.
(2) Phải xác định rõ cơ chế phối hợp liên ngành: Quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan Công an, cơ quan chuyên môn về bảo vệ quyền trẻ em và UBND cấp xã trong việc xác minh nguồn gốc trẻ và giám sát hậu kỳ. Để khai thác dữ liệu, liên thông, dùng chung nhằm thực hiện mục tiêu phân cấp phân quyền, tôi nghĩ rất cần có quy định cụ thể tại dự thảo Luật.
Hiện tại Dự thảo Luật đã có quy định tại Điều 8 Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác nuôi con nuôi chỉ nêu 2 khoản mang tính nguyên tắc, mang tính khuyến cáo “tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin”/Dữ liệu điện tử về nuôi con nu được tiếp tục nâng cấp mở rộng. Với quy định này rất khó định lượng để xác định hành vi vi phạm cụ thể (phải xác định được lỗi, hậu quả, hành động hoặc không hành động thì dẫn đến hậu quả) nhằm đưa ra chế tài xử lý (hành chính, tài chính, hình sự tương ứng với hành vi vi phạm...), cũng như khó xác định nhiệm vụ cũng như bố trí nguồn lực cho việc khai thác những tính năng ưu việt này. Vì vậy, cần phải rà soát để chỉnh sửa sao cho rõ ràng, chuẩn hoá hơn. Nội dung này Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề xuất gộp khoản 1 và 2 Điều 8 và khẳng định dữ liệu nuôi con nuôi là bộ phận của Cơ sở Dữ liệu quốc gia về hộ tịch và quy định nguyên tắc quản lý dữ liệu về nuôi con nuôi. Tuy nhiên, dưới góc độ cá nhân, đại biểu đề nghị xác định cụ thể hơn nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý dữ liệu đồng thời có thêm quy định về phối hợp liên ngành để khai thác thành tựu chuyển đổi số và liên thông dữ liệu.
Cụ thể là:
(1) Xây dựng, quản lý và vận hành Hệ thống thông tin nuôi con nuôi tập trung, thông suốt từ trung ương đến địa phương, kết nối và chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu về trẻ em và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan.
(2) Cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục về nuôi con nuôi có trách nhiệm khai thác thông tin trên môi trường điện tử để giải quyết thủ tục hành chính; không được yêu cầu người dân nộp các giấy tờ, hồ sơ bản giấy nếu thông tin đó đã có và được chia sẻ hợp pháp từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Nội dung này đã được yêu cầu khi thực hiện chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính thời gian qua, tuy nhiên để đồng bộ cũng cần quy định để đảm bảo xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan.
(3) Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, cơ quan chuyên môn về bảo vệ quyền trẻ em, Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế và Ủy ban nhân dân các cấp thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, liên thông quy trình trong thực hiện quy định về nuôi con nuôi.
Trường hợp không quy định chi tiết thì có thể quy định nguyên tắc và giao Chính phủ quy định chi tiết việc kết nối, chia sẻ dữ liệu, quy trình liên thông và chế độ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ nêu trên.
PV (lược ghi)