Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam có đến 3% dân số nhiễm viêm gan siêu vi C (VGSV C) và là nước có số người mắc mới ngày càng cao. Đây là căn bệnh mạn tính có tỷ lệ tử vong cao, chưa có thuốc chủng ngừa. Làm thế nào để giúp người nhiễm VGSV C điều trị bệnh kịp thời, đỡ tốn kém tiền bạc? Tại Hội thảo Chẩn đoán và điều trị viêm gan C mạn tính, do Trường ĐH Y Dược Cần Thơ tổ chức (ngày 20-5-2012), các bác sĩ giàu kinh nghiệm đã đưa ra khuyến cáo.
 |
|
Xét nghiệm tìm vi-rút VGSV C bằng máy xét nghiệm sinh học phân tử CAP/CTM 48 của Tập đoàn Roche (Thụy Sĩ) - Ảnh chụp tại BVĐK Hoàn Mỹ Cửu Long. |
Nguyên nhân lây nhiễm vi-rút VGSV C cũng như vi-rút HIV là qua việc truyền máu, quan hệ tình dục và từ mẹ sang con. Điều tra dịch tễ học nghiên cứu, trên 1.000 bệnh nhân nhiễm vi-rút VGSV C thì có đến 50% bị mạn tính. Tần suất nhiễm nhiều nhất là ở người tiêm chích ma túy (từ 87% đến 97%), lây nhiễm trong bệnh viện 19% (người điều trị chạy thận nhân tạo, nội soi, sinh thiết). 75% người nhiễm VGSV C sẽ bị bệnh mãn tính, nếu không điều trị kịp thời sẽ bị xơ gan, ung thư gan. Người nghiện rượu nhiễm vi-rút VGSV C nguy cơ ung thư gan cao gấp đôi bình thường. Sự nguy hại là hầu hết bệnh nhân nhiễm vi- rút VGSV C không có triệu chứng rõ rệt, cho đến khi xảy ra tổn thương gan không hồi phục. Do đó, đối với đối tượng nằm trong diện nguy cơ cao thì cần phải tầm soát bệnh để điều trị kịp thời.
Phương pháp phát hiện vi-rút VGSV C là xét nghiệm máu. Hiện nay, chưa có phòng thí nghiệm nào được Bộ Y tế công nhận đạt chuẩn về xét nghiệm VGSV C. Do đó, người nghi nhiễm vi-rút VGSV C phải đến các cơ sở y tế lớn, có uy tín, để quá trình điều trị luôn có sự phối hợp giữa bác sĩ xét nghiệm (trong lộ trình điều trị cần phải xét nghiệm định lượng và định tính vào các thời điểm cần thiết) và bác sĩ lâm sàng (căn cứ trên kết quả xét nghiệm để điều chỉnh phác đồ điều trị thích hợp), là yêu cầu cực kỳ quan trọng. Đồng thời, bệnh nhân VGSV C mãn tính, thường mắc các bệnh kèm theo, cần phải được điều trị thích hợp. Do vậy, bệnh nhân tuyệt đối tránh tình trạng điều trị nửa vời, điều trị không liên tục do chuyển đổi cơ sở y tế.
Người bị VGSV C mạn tính, nếu đã có bệnh mãn tính khác như tiểu đường, thì tỷ lệ trầm cảm cao, vì tâm lý lo sợ khi bệnh tật hành hạ. Trong quá trình điều trị, bệnh nhân thường hỏi bác sĩ “có điều trị khỏi không?”. Việc này, kết hợp với tình trạng sức khỏe suy yếu, giảm khả năng lao động, ít hoạt động xã hội,... sẽ dễ dẫn đến nguy cơ tự tử. Do vậy, để bệnh nhân VGSV C mãn tính được điều trị khỏi bệnh, việc dùng thuốc chỉ là điều kiện cần. Vấn đề quan trọng là giúp bệnh nhân có ý chí vượt qua bệnh tật, nên cần phải có sự quan tâm chia sẻ từ những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.
Tóm lại, hiện nay, bệnh VGSV C là vấn đề y tế toàn cầu, gia tăng mạnh mẽ trong đại dịch nhiễm HIV/AIDS và quan trọng nhất là chưa có thuốc chủng ngừa. Để hạn chế lây nhiễm cho cộng đồng, những người có nguy cơ cao cần phải tầm soát để điều trị kịp thời, tránh được biến chứng nguy hiểm. Bệnh nhân nhiễm VGSV C, nếu điều trị kịp thời theo đúng phác đồ thì sẽ khỏi bệnh, duy trì được chất lượng cuộc sống.
MINH NGUYỆT (lược ghi)
|
“Ở nước ta, người dân còn lơ là với biện pháp phòng bệnh. Nhiều người còn cho rằng, vi-rút VGSV C có thuốc chủng ngừa. Đối với người đã nhiễm bệnh, phác đồ điều trị là cực kỳ quan trọng. Phác đồ điều trị được quyết định từ kết quả xét nghiệm, nhưng trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy, hầu hết bác sĩ xét nghiệm chỉ đơn thuần làm xét nghiệm, chưa có sự phối hợp với bác sĩ lâm sàng. Việc này xuất phát từ sự phát triển của hệ thống phòng xét nghiệm tư nhân, quảng cáo rầm rộ, làm bệnh nhân VGSV C mạn tính tốn nhiều thời gian, tiền của để điều trị bệnh, nhưng không đạt hiệu quả. Tình trạng kháng thuốc trong bệnh nhân nhiễm vi rút VGSV C mạn tính ngày càng cao. Năm 2011, ước tính có gần 500.000 bệnh nhân bị kháng thuốc”.
Bác sĩ NGUYỄN HỮU CHÍ, Bộ môn Nhiễm Trường ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh |