23/04/2026 - 07:42

Bảo tồn hệ sinh thái, phát triển mô hình ứng phó biến đổi khí hậu 

Theo các chuyên gia, thời gian qua, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã gây ra nhiều thách thức lớn cho các mô hình sản xuất nông nghiệp truyền thống ở ĐBSCL. Tuy nhiên, nhiều loại cây trồng, mô hình sản xuất thích ứng BĐKH đã hình thành, phát triển và khẳng định được vị thế trong tình hình mới…

Mô hình nuôi ong hút mật hoa tràm phát triển tại xã Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp.

Phát huy cây trồng phù hợp

Tại các địa phương ven biển ĐBSCL, các lĩnh vực sản xuất truyền thống được biết đến lâu nay là thủy sản, lúa gạo và cây ăn trái. Tuy nhiên, dưới tác động của BĐKH, thời tiết cực đoan khiến hoạt động sản xuất nông, thủy sản trong khu vực ngày càng khó khăn. Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thiệt hại đối với ngành lúa gạo, thủy sản, cây ăn trái và hoa màu ở ĐBSCL có thể lên đến khoảng 70.000 tỉ đồng mỗi năm do xâm nhập mặn (XNM). 

Từ những tác động của BĐKH, XNM… nhiều công trình, dự án ứng phó hình thành. Hiện ĐBSCL có 15 hệ thống thủy lợi, kiểm soát nguồn nước phục vụ trên 2,7 triệu héc-ta đất sản xuất nông nghiệp. Trong đó, tại vùng Đồng Tháp Mười có hệ thống đê bao dài nhất với trên 3.150km đê bao kín và trên 6.880km đê bao lửng.

Đê bao, bờ bao ở ĐBSCL nói chung và Đồng Tháp Mười nói riêng là công trình đa mục tiêu, nhằm bảo vệ an toàn cho người dân, cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất 3 vụ lúa trong năm, đồng thời tận dụng công trình kiểm soát lũ để lấy phù sa, thủy sản và vệ sinh đồng ruộng. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, việc mở rộng diện tích, tăng vụ cùng với xây dựng hệ thống đê bao trong nhiều năm đã để lại một số hạn chế cho vùng ĐBSCL. Trong đó chuyển biến dễ nhận thấy nhất là đất đai giảm dinh dưỡng, phát thải khí nhà kính, CO2 tăng lên…

Theo ông Lý Văn Lợi, Công ty cổ phần Học tập và Chuyển đổi tự nhiên, những bất lợi về thổ nhưỡng hoàn toàn có thể chuyển đổi thành lợi thế nhờ lựa chọn cây trồng phù hợp nhằm giảm phát thải. Điển hình là cây tràm - loài cây có khả năng thích nghi tốt với đất phèn nặng, thậm chí ở môi trường có độ pH dưới 4, vốn không thuận lợi cho trồng lúa hay thủy sản. Bên cạnh đó, tre cũng là loại cây bản địa có sức sống bền bỉ trên nhiều điều kiện sinh thái khác nhau. Việc phát triển các loại cây này không chỉ giúp lọc không khí, giảm phát thải CO2 để thích ứng với BĐKH, mà còn mở ra hướng đi tăng thu nhập bền vững cho người dân.

Minh chứng rõ nét cho định hướng này là gia đình ông Nguyễn Văn Hút, chủ cơ sở mật ong Hút Dẻo tại xã Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp. Tận dụng lợi thế từ những cánh rừng tràm bản địa, ông Hút đã được hỗ trợ nguồn vốn để phát triển đàn ong từ 50 thùng ban đầu lên hơn 500 thùng như hiện nay.

Ông Hút chia sẻ: “Nhờ nguồn mật hoa tự nhiên từ Vườn quốc gia Tràm Chim cùng sự hỗ trợ về kỹ thuật, gia đình tôi đã xây dựng được mô hình sinh kế bền vững. Hiện nay, mỗi tháng cơ sở cung ứng ra thị trường khoảng 1,5-2 tấn mật, đạt doanh thu trên 300 triệu đồng”. Không chỉ thoát nghèo, sản phẩm mật ong Hút Dẻo đã vươn xa khắp vùng ĐBSCL và TP Hồ Chí Minh, trở thành mô hình sản xuất thích ứng BĐKH tiêu biểu đang được ngành chức năng địa phương nhân rộng.

Ông Nguyễn Lê Phương, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Thương mại cổ phần VietS, cho biết cây tre được ứng dụng đa dạng, từ sản xuất nội thất, ván sàn, ván ghép đến dệt vải trong ngành may mặc. Tre được sử dụng hiệu quả để sản xuất than hoạt tính và bột giấy. Việt Nam hiện nằm trong nhóm bốn quốc gia xuất khẩu tre lớn nhất thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia, với kim ngạch hiện đạt khoảng 800 triệu USD/năm… Do đó, đây là một trong những mô hình cây trồng vừa bảo vệ đất, chống sạt lở, chống phát thải khí nhà kính, vừa tăng thu nhập cho nông dân.  

Kết hợp phát triển thị trường

Theo Khoa Kinh tế - Tài nguyên môi trường (Đại học Cần Thơ), tiềm năng cây bản địa, tre, nứa, tràm… không chỉ là “lá chắn” trước BĐKH, mà còn mở ra cơ hội tạo sinh kế bền vững cho người dân. Tuy nhiên, để phát triển hiệu quả cần sự hỗ trợ của ngành chức năng. Bà Ngô Thị Thanh Trúc, Khoa Kinh tế - Tài nguyên môi trường, cho biết qua nghiên cứu về cây tầm vông (cùng nhóm với tre), hiệu quả kinh tế hiện còn thấp. Hiệu suất hiện nay của tầm vông chỉ khoảng 1 triệu đồng mỗi công (1.000m2), chiếm 10-30% tổng thu nhập hộ gia đình. Chính vì vậy, trước hết cần nâng cao thu nhập cho nông dân thông qua việc kết nối thị trường tiêu thụ và đa dạng hóa sản phẩm nhằm khai thác tối đa giá trị của cây bản địa.

Bên cạnh đó, cần tận dụng giá trị sinh thái để phát triển du lịch và khai thác tín chỉ carbon thông qua hợp tác đa bên, bao gồm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ. Trong đó, vai trò của các viện, trường cũng rất quan trọng trong chuẩn hóa quy trình trồng, tính toán tín chỉ carbon và đề xuất Nhà nước cần hoàn thiện quy hoạch, chính sách hỗ trợ tài chính để tạo nền tảng phát triển bền vững, ứng phó BĐKH...

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Lê Phương cũng đồng tình cần quy hoạch vùng trồng thay vì phát triển tự phát. Đồng thời phải phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, bao gồm thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất các sản phẩm từ cây bản địa theo quy mô công nghiệp. Ngoài ra cần hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa nhà khoa học, nhà thiết kế và doanh nghiệp. Bởi nhà khoa học sẽ giúp nghiên cứu xử lý nguyên liệu; nhà thiết kế nắm bắt xu hướng thị trường để tạo ra sản phẩm mới, phù hợp và doanh nghiệp đảm nhận vai trò tổ chức sản xuất, phát triển đầu ra. 

Bài, ảnh: HÀ VĂN

Chia sẻ bài viết