07/09/2026 - 15:58

Nông sản Việt chuyển lợi thế sang giá trị và thương hiệu 

Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo, hạt điều, hồ tiêu, càphê hàng đầu thế giới, với sản phẩm được đưa tới hơn 150 quốc gia, trong đó có nhiều thị trường yêu cầu tiêu chuẩn cao.

Gạo ST25 là mặt hàng trung tâm tại Tuần hàng Việt Nam tại Selgros. (Ảnh: Thu Hằng/TTXVN)

Dư địa xuất khẩu nông sản, thực phẩm Việt Nam vẫn rộng mở khi nhu cầu thế giới tiếp tục gia tăng, các thị trường mới xuất hiện và hệ thống các hiệp định thương mại tự do (FTA) tạo điều kiện mở cửa thị trường.

Song để biến dư địa thành tăng trưởng bền vững, toàn bộ chuỗi cung ứng cần chuyển từ tư duy “bán những gì mình có” sang “bán những gì thị trường cần”, từ tăng sản lượng sang tăng giá trị và định vị thương hiệu.

Dư địa thị trường rộng mở

Với lợi thế về sản xuất và sự đa dạng của sản phẩm, nông sản, thực phẩm Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội mở rộng thị trường. Bà Nguyễn Thảo Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương nhận định, xuất khẩu nông sản ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là nhóm mặt hàng mang về giá trị kim ngạch hàng chục tỷ USD mỗi năm, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP và cân bằng cán cân thương mại.

Đáng chú ý, giai đoạn 2022-2025, trong khi tốc độ phát triển xuất khẩu nói chung đạt khoảng 9%/năm, xuất khẩu nhóm nông sản tăng tới 15 - 16%/năm.

Kết quả này không chỉ phản ánh năng lực gia tăng sản lượng mà còn cho thấy tổ chức sản xuất nông nghiệp của Việt Nam được cải thiện, chất lượng nông sản từng bước nâng lên, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường quốc tế.

Một trong những lợi thế nổi bật của ngành nông nghiệp Việt Nam là khả năng sản xuất đa dạng các mặt hàng từ lương thực, trái cây, rau quả đến chăn nuôi.

Ông Lê Anh Dũng, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Rau quả, Nông sản Việt Nam (Vegetexco Vietnam), phân tích: Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng thuận lợi.

Đây là cơ sở để ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển, đồng thời mở ra cơ hội thu hút doanh nghiệp trong nước và quốc tế đầu tư, tạo dựng các chuỗi giá trị nông nghiệp có sức cạnh tranh cao.

Riêng lĩnh vực cây ăn trái, Việt Nam hiện có khoảng 1,2 triệu ha, sản lượng lên tới 13 triệu tấn/năm. Các sản phẩm trái cây có giá trị dinh dưỡng và hương vị đặc trưng, đã được xuất khẩu tới hơn 60 quốc gia, trong đó có những thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,….

Việt Nam cũng là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo, hạt điều, hồ tiêu, càphê hàng đầu thế giới, với sản phẩm được đưa tới hơn 150 quốc gia, trong đó có nhiều thị trường yêu cầu tiêu chuẩn cao.

Đặc biệt, nhóm sản phẩm rau củ đang trên đà phát triển ấn tượng trong những năm gần đây. Với điều kiện khí hậu, địa hình đa dạng, vùng sản xuất rau củ trải dài trên cả nước, Việt Nam có khả năng cung ứng nhiều chủng loại từ rau ôn đới đến cận nhiệt đới.

Diện tích gieo trồng rau củ hiện khoảng 1 triệu ha, sản lượng đạt khoảng 16 triệu tấn/năm, tạo nền tảng để phát triển xuất khẩu các nhóm rau củ chủ lực.

Về thị trường, ông Sven Dekker, Đồng sáng lập Công ty Viet Nam Food Europe BV, cho biết: EU hiện nhập khẩu khoảng 14 tỷ EUR thực phẩm từ ASEAN, trong đó nguồn hàng từ Việt Nam chiếm khoảng 25%.

Đáng chú ý, thương mại điện tử B2B tại châu Âu tăng trưởng bình quân hơn 22% mỗi năm, mở thêm phương thức phân phối cho những mặt hàng đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng, tốc độ giao nhận và khả năng giao dịch trực tuyến.

Việt Nam được các nhà thu mua, phân phối nông sản tại EU đánh giá cao về các loại trái cây và rau quả nhờ lợi thế đa dạng về chủng loại và khả năng cung ứng quanh năm.

Bên cạnh các thị trường truyền thống, Trung Đông đang nổi lên là điểm đến giàu tiềm năng đối với nông sản, thực phẩm Việt. Theo các doanh nghiệp, khu vực này có quy mô nhập khẩu lớn và đang gia tăng tìm kiếm nguồn cung nông sản, thực phẩm.

Tại chuỗi sự kiện Kết nối chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế (Viet Nam International Sourcing 2026) do Bộ Công Thương tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh vừa qua, đại diện các tập đoàn bán lẻ lớn khu vực Trung Đông như Lulu, Lootah đặc biệt quan tâm đến năng lực cung ứng nông sản, thực phẩm của Việt Nam.

Trong khi đó, đại diện Tập đoàn Central Retail nhận định không phải đi quá xa, ngay tại Đông Nam Á vẫn còn nhiều dư địa cho nông sản, thực phẩm Việt Nam.

Đây là thị trường có khoảng cách địa lý tương đối thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và có thể trở thành một trong những hướng giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.

Cũng tại chuỗi sự kiện Kết nối Chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế, ông Song Chi-young, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp siêu nhỏ Hàn Quốc (KFME), cho biết ban đầu các doanh nghiệp Hàn Quốc quan tâm nhiều đến lĩnh vực kỹ thuật của Việt Nam.

Tuy nhiên, sau khi khảo sát thực tế, họ nhận thấy nông sản, thực phẩm là lĩnh vực giàu tiềm năng bởi nguồn hàng đa dạng, phong phú và chất lượng tốt.

KFME mong muốn kết nối hội viên với doanh nghiệp Việt Nam, không chỉ trong lĩnh vực thiết bị, máy móc, drone mà cả thương mại nông sản và thực phẩm.

(Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Phát huy thế mạnh chuỗi liên kết

Thị trường rộng mở cũng đồng nghĩa với cuộc cạnh tranh ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn, chất lượng và phát triển bền vững, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất và thương mại.

Theo Bộ Công Thương, các thị trường lớn như châu Âu, Hoa Kỳ đang liên tục nâng cao tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động thực vật (SPS), truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững.

Những quy định như Quy định chống phá rừng (EUDR), Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới (CBAM) hay các yêu cầu liên quan chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) đang tạo thêm sức ép đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Thực tế này cho thấy yêu cầu phát triển bền vững không còn là câu chuyện mang tính lựa chọn mà đã trở thành điều kiện để duy trì thị trường.

Ông Lê Anh Dũng cho rằng, thời gian qua Chính phủ và các Bộ, ngành của Việt Nam đã rất tích cực trong việc đàm phán mở cửa thị trường cho hàng hoá Việt Nam, trong đó có nông sản, thực phẩm.

Việc thực thi các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là các hiệp định thế hệ mới, tiếp tục mở rộng không gian thị trường cho nông sản, thực phẩm Việt Nam. Tuy nhiên, lợi thế thuế quan hiện nay không còn đủ để tạo ra khác biệt.

Thị trường đang chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng, năng lực cung ứng ổn định, khả năng truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm xã hội…

Kinh nghiệm của Vegetexco cho thấy, việc hình thành chuỗi giá trị khép kín là một hướng đi chiến lược giúp doanh nghiệp tiếp cận và mở rộng thị trường đến gần 60 quốc gia khác nhau.

Để có được kết quả đó, doanh nghiệp đã đầu tư nhân lực và công nghệ để xây dựng chuỗi từ nghiên cứu giống đến tổ chức các nông trường chuyên canh, trung tâm bảo quản và chế biến nông sản hiện đại; đồng thời phát triển mạng lưới thương mại quốc tế.

“Những hàng rào kỹ thuật ngày càng cao của thị trường quốc tế không chỉ tạo áp lực cạnh tranh về giá, chất lượng mà còn yêu cầu doanh nghiệp đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn. Song chính sức ép này cũng trở thành động lực để doanh nghiệp đổi mới tư duy, tái cơ cấu thị trường theo hướng đa dạng và phát triển bền vững. Doanh nghiệp nếu quản trị được chuỗi cung ứng toàn diện với chất lượng đảm bảo thì rào cản nào cũng vượt qua được,” ông Lê Anh Dũng nêu quan điểm.

Đại diện Vegetexco cũng nhấn mạnh doanh nghiệp xuất khẩu dù ở lĩnh vực nào cũng cần đa dạng hóa cả sản phẩm và thị trường. Khi môi trường kinh doanh biến động, danh mục sản phẩm đủ rộng sẽ giúp doanh nghiệp chuyển dịch linh hoạt; trong khi việc phụ thuộc vào ít thị trường sẽ làm gia tăng rủi ro trước những chính sách mà doanh nghiệp khó dự đoán.

Ở khâu phân phối, ông Jose Mestre, Giám đốc Trung tâm đào tạo về ngành thực phẩm tươi sống, Tập đoàn Central Retail cho biết hệ thống bán lẻ của tập đoàn duy trì tỷ lệ hàng hóa có nguồn gốc nội địa ở mức 90%, đồng thời kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng thực phẩm tươi sống thông qua quy trình phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn, giúp quản lý và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (HACCP), ưu tiên sản phẩm hữu cơ hoặc không chứa kháng sinh.

Điều này cho thấy doanh nghiệp muốn bước vào các kênh phân phối hiện đại, đặc biệt là hệ thống bán lẻ quốc tế, phải đáp ứng được những chuẩn mực ngay từ khâu sản xuất.

Bên cạnh đó, thương mại số cũng đang mở thêm cơ hội khi các nền tảng bán lẻ và thương mại điện tử tham gia tích cực vào lĩnh vực nông sản, thực phẩm trên quy mô toàn cầu.

Ông Fukui Tomoaki, Giám đốc phụ trách ngành hàng Công ty TNHH AEON TOPVALU Việt Nam cũng cho rằng, lợi thế cạnh tranh của nông sản, thực phẩm Việt Nam hiện không còn nằm chủ yếu ở sản lượng xuất khẩu mà chuyển sang khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, gia tăng chế biến sâu và xây dựng thương hiệu ở cả thị trường trong nước lẫn quốc tế.

Các nhà cung ứng cần chủ động chuẩn hóa quy trình theo những chứng nhận quốc tế độc lập như Global GAP, USDA Organic, EU Organic, ASC,…

Để đạt được các chứng nhận trên, từng mắt xích trong chuỗi cung ứng từ quy hoạch sản xuất, thu hoạch, chế biến và thương mại phải được kết nối, kiểm soát chặt chẽ.

Khi đó, các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ là công cụ đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị sản phẩm và củng cố niềm tin của người tiêu dùng, qua đó xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Theo TTXVN/Vietnam+

Chia sẻ bài viết

Link gốc: https://www.vietnamplus.vn/nong-san-viet-chuyen-loi-the-sang-gia-tri-va-thuon...