06/09/2026 - 14:19

Mô hình du lịch nông thôn đặc trưng vùng biển đảo: Khi cộng đồng kể câu chuyện của chính mình 

Một chuyến đi biển không nhất thiết phải bắt đầu và kết thúc ở bãi biển.

Ở Nam Du, du khách có thể bắt đầu một ngày bằng tiếng máy ghe nổ giòn ngoài bến, theo ngư dân trở về sau chuyến biển đêm, ghé chợ mua hải sản rồi thưởng thức bữa sáng với những sản vật vừa được đánh bắt. Ở Lý Sơn, hành trình khám phá có thể bắt đầu bằng việc đưa du khách ra cánh đồng tỏi, nghe người dân kể về lớp cát trắng được mang từ biển lên phủ ruộng, về cách trồng tỏi trong điều kiện khắc nghiệt của một hòn đảo núi lửa.

Những trải nghiệm ấy không phải sản phẩm được tạo ra từ một công viên hay một khu nghỉ dưỡng. Chúng vốn đã hiện diện trong đời sống của cộng đồng, chỉ cần được kết nối và tổ chức thành sản phẩm du lịch.

Đó cũng có thể là một hướng đi đặc trưng của du lịch nông thôn vùng biển đảo: không xây dựng điểm đến bằng cách sao chép những mô hình thành công ở nơi khác, mà bắt đầu từ chính nghề nghiệp, văn hóa, cảnh quan và nhịp sống của cộng đồng địa phương.

Việt Nam có hơn 3.260km bờ biển cùng hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ. Dọc theo chiều dài đất nước là những cộng đồng dân cư đã hình thành sinh kế gắn với biển qua nhiều thế hệ.

Đó có thể là những làng chài sống bằng nghề đánh bắt, những vùng nuôi trồng thủy sản, những làng nghề chế biến hải sản, những cánh đồng tỏi trên đảo hay các cộng đồng lưu giữ những tập quán, lễ hội và ký ức gắn với biển.

Trong cách tiếp cận du lịch nông thôn hiện nay, những giá trị ấy không chỉ được xem là nguồn lực kinh tế truyền thống mà còn có thể trở thành tài nguyên du lịch.

Chợ cá ở cầu cảng ngoài đảo luôn có sức hấp dẫn rất đặc biệt với du khách. (Nguồn: Vietnam+)

Quyết định 922/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 xác định việc phát triển du lịch nông thôn phải gắn với khai thác các giá trị về văn hóa, cảnh quan, sản phẩm đặc trưng và lợi thế của từng địa phương. Với vùng biển đảo, lợi thế ấy càng rõ.

Một chuyến tàu đánh cá, một lồng bè nuôi thủy sản, một cánh đồng tỏi, một bữa cơm gia đình hay một câu chuyện về nghề biển vốn là những hoạt động bình thường đối với cư dân địa phương. Nhưng khi được tổ chức thành trải nghiệm, chúng lại trở thành những sản phẩm mà du khách khó có thể tìm thấy ở một điểm đến khác.

Đây là sự chuyển đổi quan trọng: từ việc bán một cảnh quan sang bán một trải nghiệm; từ việc đưa khách đến xem đời sống địa phương sang để khách tham gia vào đời sống ấy. Và trong quá trình đó, người dân không còn chỉ là người cung cấp dịch vụ. Họ trở thành người tạo ra sản phẩm.

Ở quần đảo Nam Du, sức hấp dẫn của du lịch cộng đồng bắt đầu từ chính cuộc sống của cư dân biển.

Trong những căn homestay ở Nam Du, du khách có thể bắt đầu một ngày bằng tiếng thuyền máy của ngư dân trở về sau chuyến biển đêm. (Nguồn: Vietnam+)

Tại Nam Du, du khách có thể ở nhà dân, hòa nhập với cuộc sống của cộng đồng, tìm hiểu những nghề lao động biển, tham gia các tour sinh thái biển với ngư dân trong vai trò hướng dẫn viên, thưởng thức hải sản tươi và tìm hiểu quy trình câu mực đêm.

Điều đáng chú ý ở đây là những trải nghiệm ấy không đòi hỏi phải tạo dựng một “sản phẩm” hoàn toàn mới. Chính sinh kế của người dân đã là chất liệu để hình thành sản phẩm du lịch.

Một ngư dân vốn quen với việc ra biển đánh bắt nay có thể trở thành người dẫn khách khám phá biển. Một gia đình vốn chỉ phục vụ bữa cơm cho người thân có thể đón khách thưởng thức những món ăn từ sản vật địa phương. Một căn nhà vốn phục vụ nhu cầu sinh hoạt của gia đình có thể trở thành nơi lưu trú.

Du khách vì thế không chỉ nhìn thấy biển mà còn bước vào nhịp sống của một cộng đồng biển. Đây là điểm quan trọng của mô hình du lịch nông thôn vùng biển đảo: giá trị du lịch nằm ngay trong đời sống của người dân.

Sự phát triển ấy cũng tạo thêm nguồn thu cho cộng đồng. Như vậy, du lịch không chỉ đưa tiền của du khách vào đảo. Nếu được tổ chức hợp lý, dòng tiền có thể đi sâu hơn vào cộng đồng thông qua lưu trú, ăn uống, vận chuyển, trải nghiệm nghề biển và các sản phẩm địa phương.

Nếu Nam Du kể câu chuyện bằng biển và nghề đánh bắt, Lý Sơn có một câu chuyện khác: câu chuyện về đất, tỏi, núi lửa và những con người đã thích nghi với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt để tạo dựng sinh kế.

Lý Sơn nổi tiếng với những cánh đồng tỏi. (Nguồn: Vietnam+)

Lý Sơn nổi tiếng với những cánh đồng tỏi, những dấu tích núi lửa và văn hóa biển đảo. Những giá trị ấy đang được kết nối thành các sản phẩm du lịch cộng đồng.

Để tạo một chuỗi khép kín các hoạt động dành cho du khách khi đến Lý Sơn, tháng 6/2022, mô hình du lịch cộng đồng mới với tên gọi “Kỳ bí đảo núi lửa Lý Sơn” đã ra đời. Mô hình được xây dựng dựa trên ưu thế về hoạt động nông nghiệp đặc trưng thu hoạch hành, tỏi, đánh bắt hải sản truyền thống hoạt động ẩm thực và các điểm tham quan kỳ bí ở quanh đảo núi lửa. Mô hình còn khai thác những câu chuyện kỳ bí từ thiên nhiên, văn hóa, con người Lý Sơn. Tham quan đảo thông qua mô hình du lịch cộng đồng mới này du khách có cái nhìn bao quát hơn về lịch sử phát triển Lý Sơn.

Tham gia chương trình, du khách có cơ hội một ngày làm nông dân dất đảo. Du khách không chỉ đứng bên ngoài quan sát cánh đồng tỏi mà có cơ hội tiếp cận với công việc của người dân, tìm hiểu cách canh tác và câu chuyện phía sau một sản vật đã trở thành thương hiệu của đảo.

Từ một sản phẩm nông nghiệp, tỏi Lý Sơn trở thành một phần của câu chuyện du lịch. Đây chính là giá trị mà du lịch nông thôn có thể mang lại: giúp một sản phẩm vốn được tạo ra để phục vụ đời sống và thị trường trở thành một trải nghiệm có chiều sâu hơn.

Du khách mua một túi tỏi có thể chỉ nhớ đó là đặc sản. Nhưng nếu họ được nghe người dân kể về đất, cát, gió, nguồn nước và những mùa vụ trên đảo, sản phẩm ấy sẽ mang theo một câu chuyện. Và câu chuyện làm tăng giá trị của sản phẩm.

Nếu cảnh quan là thứ đưa du khách đến một hòn đảo thì cộng đồng mới là yếu tố khiến họ hiểu và nhớ về nơi đó.

Một ngư dân biết về con nước, mùa cá và những vùng biển quanh đảo. Một người nông dân hiểu từng lớp đất, nguồn nước và cách chăm sóc cây trồng. Một người cao tuổi có thể kể những câu chuyện về lịch sử, phong tục và những đổi thay của quê hương. Đó là những “tài sản” không thể dễ dàng xây dựng bằng vốn đầu tư.

Bởi vậy, phát triển du lịch nông thôn vùng biển đảo không nên chỉ dừng ở việc xây dựng cơ sở lưu trú, đường giao thông hay điểm check-in. Quan trọng hơn là tạo điều kiện để người dân có thể tham gia, có kỹ năng làm du lịch và được hưởng lợi từ những giá trị mà chính họ đang gìn giữ.

Khi một ngư dân trở thành người hướng dẫn khách ra biển, nghề nghiệp của họ được trao thêm một giá trị mới. Khi một người nông dân mở cửa cánh đồng để du khách trải nghiệm, sản phẩm nông nghiệp của họ có thêm một kênh tạo thu nhập. Khi một gia đình đưa những món ăn vốn chỉ xuất hiện trong bữa cơm thường ngày vào phục vụ du khách, ẩm thực địa phương trở thành một phần của sản phẩm du lịch.

Những việc ấy tưởng nhỏ nhưng tạo thành một chuỗi giá trị lớn hơn.

Du lịch lúc này không tách cộng đồng ra khỏi đời sống sản xuất để phục vụ khách. Ngược lại, chính đời sống sản xuất trở thành nền tảng để tạo ra sản phẩm du lịch.

Một mô hình du lịch nông thôn vùng biển đảo chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra giá trị cho cả du khách và cộng đồng. (Nguồn: Vietnam+)

Một mô hình du lịch nông thôn vùng biển đảo chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra giá trị cho cả du khách và cộng đồng.

Du khách tìm thấy những trải nghiệm khác biệt. Người dân có thêm thu nhập. Sản phẩm địa phương có thêm thị trường. Những nghề truyền thống có thêm cơ hội được duy trì. Và cảnh quan, môi trường, văn hóa - những nền tảng tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến - có thêm động lực để được bảo vệ. Đây là mối quan hệ hai chiều giữa phát triển và bảo tồn.

Một làng chài còn giữ được nhịp sống truyền thống có thể tạo ra trải nghiệm chân thực. Một vùng biển được bảo vệ tốt có thể tiếp tục đón khách. Một cánh đồng tỏi còn được canh tác có thể tiếp tục kể câu chuyện về đất đảo.

Nếu những giá trị ấy mất đi, sản phẩm du lịch cũng mất đi nền tảng của mình.

Vì thế, điều quan trọng không phải là mỗi hòn đảo đón được bao nhiêu khách, mà còn là bao nhiêu giá trị bản địa được giữ lại, bao nhiêu người dân được tham gia và bao nhiêu lợi ích từ du lịch được quay trở lại cộng đồng.

Theo Vietnam+

Chia sẻ bài viết

Link gốc: https://www.vietnamplus.vn/mo-hinh-du-lich-nong-thon-dac-trung-vung-bien-dao-...