* GS.TS MẠCH QUANG THẮNG
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Đáp ứng yêu cầu của lịch sử
100 năm đã qua, kể từ ngày 5-6-1911, với tên là Văn Ba, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này mang nhiều tên khác, trong đó có những cái tên nổi tiếng là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) rời bến Nhà Rồng (Sài Gòn) ra đi tìm con đường mới để cứu nước. Cuối năm 1920, với sự kiện tham gia Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp và ngay sau đó tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Người đã chính thức tìm thấy con đường cứu dân, cứu nước đúng đắn - con đường theo cách mạng vô sản, theo chủ nghĩa Mác - Lênin, mở ra một hướng phát triển mới cho dân tộc Việt Nam. Suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh hiến dâng cho sự chấn hưng của dân tộc Việt Nam, cho mục đích cuối cùng và cao cả là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội - giai cấp, giải phóng con người. Hiện nay, dân tộc Việt Nam đang tiếp tục đi theo con đường phát triển của Hồ Chí Minh đã vạch ra. Điều này càng làm nổi rõ sự tác động lớn lao của người Anh hùng dân tộc vĩ đại [1] Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là người đằm mình trong các sự kiện trọng đại nhất của dân tộc Việt Nam và của các biến cố trên thế giới. Hồ Chí Minh là một phần tác động tích cực cho sự phát triển của lịch sử Việt Nam thời hiện đại và cũng là một phần nhân tố thúc đẩy lịch sử tiến hóa xã hội của loài người từ thế kỷ XX trở đi. Hồ Chí Minh thường đi trước, đi trong, hoặc song hành, chứ không đi sau các sự kiện lớn của dân tộc và trên thế giới. Hồ Chí Minh tác động mạnh mẽ vào chúng cũng như các biến cố của dân tộc và nhân loại có một chiều khác, ngược trở lại, tác động vào Hồ Chí Minh.
Điểm đầu tiên tôi muốn nhấn mạnh trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là Người đã có ý thức rõ ràng đi tìm một con đường cứu nước, cứu dân mới vào đầu thế kỷ XX khi các con đường cứu nước do các vị cách mạng tiền bối nêu lên và thực thi đều bị bế tắc. Chắc chắn rằng, phải có một tư duy mẫn cảm với thời cuộc, phải có một tinh thần vượt trội thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, lòng dũng cảm, ý chí lớn lao và tinh thần phê phán đúng đắn thì mới có được sự ra đi của Người vào ngày 5-6-1911. Trong cả thời thơ ấu, Người đã được tận mắt chứng kiến cảnh đất nước rên xiết dưới gông cùm của chế độ thực dân-phong kiến, thấy được cảnh người lao động bị áp bức, bóc lột, được nghe các bậc cha anh nặng lòng yêu nước bàn luận về thế sự...rồi vào trạc tuổi 13 đã nảy sinh muốn đi sang Pháp và các nước phương Tây tìm hiểu những điều ẩn giấu đằng sau những từ “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” - vốn là khẩu hiệu cao đẹp của Đại Cách mạng Pháp. Hồ Chí Minh tự nguyện từ bỏ được tư vị của một anh học sinh con quan trên con đường thường thấy của nhiều con quan phong kiến lúc đó là học tập để trở thành trí thức thuộc địa-phong kiến, trở thành một công chức của chính quyền thực dân ở Đông Dương; không chấp nhận con đường “Đông Du” đang hấp dẫn đối với nhiều thanh niên (sang Nhật Bản học tập) do Cụ Phan Bội Châu khởi xướng và dẫn dắt đầu thế kỷ XX. Vào thời đó, yêu nước, thậm chí yêu nước nhiệt thành thì có nhiều người, đâu chỉ có Nguyễn Tất Thành, nhưng yêu nước để có một tư duy mẫn cảm, tư duy phê phán sắc sảo về các con đường cứu nước trước đấy hoặc đương thời của các bậc cha anh rồi ra đi tìm con đường cứu nước mới, thì dường như chỉ có ở Nguyễn Tất Thành. Như vậy là yêu cầu cho sự mở đường phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam đã được đặt vào đúng Nguyễn Tất Thành và Người đã nhận trọng trách đó suốt cả cuộc đời oanh liệt đầy gian khổ hy sinh của mình.
Điểm thứ hai trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là không phải bất cứ ai đều thành công trong việc đi tìm con đường cứu nước mới. Những bậc anh hùng hào kiệt của Cần Vương như những ngôi sao lóe lên trên bầu trời đất Việt khoảng hơn 10 năm cuối thế kỷ XIX. Phong trào Cần Vương bị thực dân Pháp dập tắt nhưng ngọn lửa yêu nước không tắt. Đầu thế kỷ XX, các phong trào mới xuất hiện, mới cả về con người lãnh đạo nhưng quan trọng hơn là mới cả về tính chất, về hệ tư tưởng và đương nhiên mới cả về cách tổ chức lực lượng. Chống thực dân Pháp, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thì tất cả các phong trào yêu nước đều giống nhau, nhưng rồi để thiết lập một Nhà nước Việt Nam như thế nào, một chế độ chính trị ra sao, tập hợp lực lượng nào, theo sự chỉ dẫn của lý luận chính trị nào thì khác nhau một trời một vực. Chống Pháp mượn danh nghĩa của nhà vua rồi trở về chế độ phong kiến (Cần Vương) thì đã lỗi thời, không hợp xu thế. Mà đã như thế thì khó tránh khỏi thất bại.
Chính trong bối cảnh đó, xuất hiện luồng gió mới mà những trí thức Việt Nam yêu nước là những người cảm nhận được trước hết. Sẵn lòng yêu nước, nhạy cảm với thời cuộc, qua tiếp xúc với một số sách báo tiếng Pháp, tiếng Trung Hoa, họ bắt gặp tư tưởng dân chủ tư sản. Dù thực dân Pháp cố tình bưng bít như thế nào đi chăng nữa song những tư tưởng của Cách mạng Pháp năm 1789, của Cách mạng Nga (1905-1907), của trào lưu tư tưởng tư sản Trung Quốc, nhất là cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 với tư tưởng “Tam dân” của lãnh tụ Tôn Trung Sơn, v.v. vẫn dội vào Việt Nam. Hơn nữa, cùng với nhịp điệu ngày càng tăng của sự khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam ngày càng phân hóa mạnh mẽ hơn. Đầu thế kỷ XX, những giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện: giai cấp vô sản, tầng lớp tiểu tư sản, trí thức. Đồng thời, nhiều sĩ phu vốn thuộc thành phần giai cấp phong kiến, theo Nho học, sau bao trăn trở trước thời cuộc, đã chuyển mình sang lập trường dân chủ tư sản. Nổi bật nhất đầu thế kỷ XX là phong trào cứu nước do Cụ Phan Bội Châu lãnh đạo với mục đích giành độc lập dân tộc bằng bạo động vũ trang để lập chế độ đại nghị cộng hòa. Cụ Phan Bội Châu đề ra các phong trào: Đông Du (1906-1908), Việt Nam Quang phục hội (1912). Cùng với với các phong trào của Cụ Phan Bội Châu là các cuộc vận động Duy Tân (1906-1908) do Cụ Phan Châu Trinh lãnh đạo và phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) cổ vũ lòng yêu nước, vận động học quốc ngữ, vận động thực thi đời sống mới, v.v. Ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến đã bị bẻ gẫy. Ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng tư sản tuy là mới ở Việt Nam nhưng cũng không đáp ứng nổi yêu cầu phát triển của dân tộc. Phong trào của Cụ Phan Bội Châu hoạt động theo lối vũ trang bạo động thì bị thực dân Pháp đàn áp đã đành, nhưng các phong trào yêu nước khác theo lối cải lương, cải cách (“Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, “Bất bạo động, bạo động tắc tử” - Phan Châu Trinh) mà cũng bị thực dân Pháp không cho đất sống. Anh dũng có thừa, máu đào của các bậc tiên liệt đã đổ xuống nhưng cây độc lập-tự do vẫn không ra hoa kết trái.
Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường cứu nước mới ở vào quãng thời gian đặc biệt đó của lịch sử dân tộc Việt Nam. Ở Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh hội đủ những yếu tố cần thiết cho sự dấn thân vào quá trình tìm đường, mở đường, dẫn đường cho dân tộc Việt Nam phát triển: ý chí lớn lao, tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng vượt qua bao gian truân, từ một anh thanh niên học sinh gày gò, mảnh khảnh tự nguyện hòa vào cuộc sống của người lao động chân tay (thuộc về giai cấp cần lao) để trực tiếp cảm nhận về thời cuộc, v.v. Lúc Người rời bến Nhà Rồng để đi sang Pháp và các nước phương Tây, chỉ với hai bàn tay và khối óc đầy nhiệt huyết sẵn sàng chấp nhận mọi hiểm nguy. Đến nước nào, Người cũng làm việc để kiếm sống và hoạt động. Đi đến đâu Người cũng tự nghiên cứu, tự học. Cả cuộc đời của Người là sự tu dưỡng, rèn luyện, coi tất cả các sự kiện của cuộc sống là những bài học sống động cho mình. Hồ Chí Minh không có bằng cấp của học đường, nhưng ở Người hội đủ những tri thức uyên bác, cổ kim Đông - Tây, là sự chắt lọc, tiếp biến văn hóa, đúc kết thành khối tri thức và bản lĩnh chính trị, nhân cách cao đẹp của con người Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin qua đó tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là bởi những yếu tố đó, khác với những người Việt Nam ở Pháp lúc đó cũng giỏi giang nổi tiếng: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh...
Điểm thứ ba trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là tìm được con đường cứu nước đúng đắn rồi, không phải cứ thế con đường đó được vận hành suôn sẻ vào Việt Nam. Sau năm 1920 là thời gian trường kỳ truyền bá, huấn luyện, tổ chức để đưa con đường cứu nước đúng đắn về thực hành trên đất nước Việt Nam, mà một vấn đề có tính then chốt nhất là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - một tổ chức có tính quyết định đến sự thành bại của cách mạng Việt Nam, một tổ chức vạch đường, chỉ lối, lãnh đạo đoàn kết toàn dân tộc, hòa cùng thời thế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đoàn kết trong nước với đoàn kết quốc tế để cho dân tộc Việt Nam phát triển trên con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh mở ra con đường mới và dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân đi theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội với cả trái tim đầy nhiệt huyết, bộ óc sáng suốt và gương sáng cả cuộc đời con người luôn luôn vươn tới những giá trị của Chân, Thiện, Mỹ, của đạo đức cách mạng trọn vẹn của cuộc đời. Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật tiêu biểu trong lịch sử nhân loại có tác động mãnh liệt vào tiến trình phát triển. Sự nghiệp của Hồ Chí Minh, con đường Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt mọi người dân Việt Nam yêu nước dựa vào nền văn hóa mà trên đấy biểu đạt những giá trị toàn cầu, những khát vọng của con người, của các dân tộc khác nhau, có bản sắc, cốt cách, đặc tính khác nhau nhưng thống nhất, hài hòa trong những giá trị chung nhất, tốt đẹp nhất mà con người toàn nhân loại và các dân tộc trên thế giới khát khao vươn tới. Đó là sự thống nhất trong đa dạng. Người tìm đường, mở đường và dẫn đường mang tên Hồ Chí Minh đã khuếch những cái đa dạng ấy lên, kết dính sự thống nhất đó vào một khối văn hóa đầy sức sống để bảo tồn, thúc đẩy chân, thiện, mỹ thúc đẩy cho sự chấn hưng đất nước Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng.
Hồ Chí Minh luôn luôn sống trong những nhịp đập của đất nước, vì sự nghiệp của Người, tư tưởng của Người vẫn đồng hành cùng dân tộc. Điều tuyệt diệu là ở chỗ đó. Nếu thân thế và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là của thời gian Hồ Chí Minh sống thôi, thì giá trị cuộc đời Hồ Chí Minh không lớn lắm. Hồ Chí Minh để lại một sự nghiệp, một tư tưởng ngời sáng, trở thành giá trị văn hóa, mà khi đã trở thành giá trị văn hóa thì có sức sống mãnh liệt, có sức lan tỏa, thẩm thấu vô biên, nhập vào các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc và nhân loại.
Sự tiếp nối giá trị của con đường
Hồ Chí Minh không phải là một nhân vật huyền thoại theo nghĩa là nhiều điều không có thực mà cái đức, cái tâm, cái tầm, cái trí, cái tài của Hồ Chí Minh đã thành giá trị thực luôn hiển hiện trong tâm khảm của mỗi một người dân yêu nước, trong các thế hệ người Việt Nam. Sự nghiệp của Hồ Chí Minh còn dang dở, và người Việt Nam yêu nước các thế hệ, khắp các phương trời đang tiếp bước Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh có trong hành trang của dân tộc Việt Nam và nhân loại cần lao tiến bước vào văn minh, tiến bộ. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh chính là một thông điệp cho sự phát triển. Và, chính vì như vậy, giá trị cuộc đời Hồ Chí Minh trở thành một tài sản tinh thần quý báu cho dân tộc Việt Nam và - rộng hơn nữa - cho nhân dân lao động trên toàn thế giới.
Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, lúc sự nghiệp cách mạng nước ta đang ở vào thời điểm rất cam go: cuộc chống Mỹ, cứu nước đang ở vào giai đoạn quyết liệt nhất sau Mậu Thân; sự nghiệp xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương của tiền tuyến lớn miền Nam cũng đang gặp nhiều khó khăn; sự bất đồng trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, phong trào xã hội chủ nghĩa diễn ra ngày càng trầm trọng, đặc biệt là đối với hai Đảng Cộng sản và hai Nhà nước Liên Xô và Trung Quốc. Điều này trước hết ảnh hưởng không thuận lợi đến sự ủng hộ, chi viện cho cách mạng Việt Nam. Đi theo con đường của Người, thực hiện tốt sự chỉ dẫn của Hồ Chí Minh ghi trong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (Di chúc), cách mạng Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và giành được nhiều thắng lợi: toàn thắng trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội, đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong những cơn biến động chính trị phức tạp hai thập niên cuối cùng của thế kỷ XX và trong dòng xoáy của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, Việt Nam biết vượt qua thử thách, nắm bắt thời cơ để ổn định chính trị, phát triển bền vững, thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển...Có được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử như vậy là do Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng, tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin, coi tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc trên con đường phát triển. Sự nghiệp đổi mới đất nước càng đi vào chiều sâu thì chúng ta càng thấy sự sáng suốt của Đảng khi quyết định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.
(Còn tiếp)
Theo TTXVN
---------------
[1] Trong Điếu văn của BCH T.Ư Đảng Lao động Việt Nam tại Lễ truy điệu Hồ Chí Minh ngày 9-9-1969 có đoạn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại (Tôi nhấn mạnh MQT), và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta” (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập , T.12, Nxb CTQG, H, 1996, tr.516). Tháng 12-1976, trong Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, có đoạn: “Thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cũng như những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam ngót nửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh nền Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân ta, người anh hùng dân tộc vĩ đại (Tôi nhấn mạnh MQT), người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế” (Xem ĐCS Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập , Nxb CTQG, H, T.37, tr.474). Như vậy, lần đầu tiên, qua văn kiện của BCH T.Ư Đảng và ở tầm cao nhất, qua văn kiện của Đại hội toàn quốc, Đảng đã chính thức ghi nhận Hồ Chí Minh là “người anh hùng dân tộc vĩ đại”. “Danh hiệu” có từ sớm, còn đến năm 1987, UNESCO mới ghi nhận Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc và là Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”.