07/04/2026 - 05:09

Xung quanh chiến dịch giải cứu phi công Mỹ ở Iran 

Các phi công tinh nhuệ và lực lượng đặc nhiệm của quân đội Mỹ trải qua quá trình huấn luyện khắc nghiệt để đối phó với tình huống bị mắc kẹt trong lãnh thổ đối phương, giống như phi công trên chiếc F-15E Strike Eagle vừa được giải cứu ở Iran.

Mảnh vỡ của tiêm kích F-15 bị bắn rơi tại Iran. Ảnh: Iran State Media/USAF

Ngày 5-4, Tổng thống Donald Trump đã hết lời ca ngợi lực lượng Mỹ trong chiến dịch táo bạo nhất trong lịch sử Mỹ nhằm giải cứu thành công phi công còn lại trong vụ tiêm kích F-15 bị bắn hạ tại Iran. 

Vai trò quan trọng của thiết bị nhỏ 

Trước đó, hôm 3-4, hai thành viên tổ bay trên chiếc F-15 đã phóng ghế thoát hiểm khi tiêm kích bị bắn rơi tại Iran. Trong khi phi công buồng trước được giải cứu nhanh chóng, sĩ quan điều khiển vũ khí (còn gọi là phi công buồng sau) mắc kẹt tại quốc gia Trung Đông. Vụ việc khiến Mỹ kích hoạt chiến dịch tìm kiếm khẩn cấp. Nếu thành viên phi hành đoàn bị bắt giữ, Iran sẽ có một đòn bẩy đàm phán với Mỹ và một chiến lợi phẩm tuyên truyền quý giá trong thời chiến.

Sau khi tiếp đất, viên phi công này đã trốn trong một khe núi, ở độ cao hơn 2.000m so với mực nước biển để tránh bị bắt. Vụ giải cứu diễn ra thành công cho thấy vai trò quan trọng của “thiết bị định vị và hỗ trợ sống sót, lẩn tránh trong chiến đấu” (CSEL) trong các chiến dịch tìm kiếm, cứu nạn quân sự. CSEL là thiết bị nhỏ gọn do Boeing sản xuất, nặng khoảng 800 gram, được tích hợp vào áo sinh tồn của phi công và vẫn hoạt động sau khi nhảy dù thoát hiểm.

Thiết bị này liên tục phát tín hiệu định vị được mã hóa cùng các thông điệp cài sẵn như “bị thương” hoặc “sẵn sàng sơ tán”, với cơ chế nhảy tần nhanh và phát xung ngắn, giúp tránh bị phát hiện bởi hệ thống tác chiến điện tử của đối phương. CSEL được thiết kế có độ bền cao, có thể hoạt động sau khi ngâm nước ở độ sâu tới 10m và duy trì thời gian chờ lên tới 21 ngày. Thiết bị cho phép sử dụng trong điều kiện thiếu sáng, áp lực cao và khi người dùng đeo găng bay. Ngoài liên lạc trực tiếp bằng ăng-ten ngoài, CSEL còn hỗ trợ kết nối vệ tinh qua ăng-ten tích hợp, đồng thời có nút khẩn cấp để phát tín hiệu không mã hóa trong tình huống nguy cấp.

Trong chiến dịch vừa diễn ra, sĩ quan dẫn đường đã sử dụng các điểm an toàn được cài sẵn và gửi tín hiệu mã hóa theo từng khoảng thời gian nhằm tránh bị phát hiện. Khi lực lượng cứu hộ tiếp cận, thiết bị chuyển sang chế độ cho phép xác định chính xác vị trí. Dữ liệu được truyền qua vệ tinh tới các trung tâm chỉ huy, cung cấp thông tin về danh tính, tình trạng y tế và mã xác thực của phi công.

Máy bay Mỹ đồng thời đã thả bom để dọn sạch khu vực, trong khi dân thường địa phương tham gia lùng sục sau khi lực lượng an ninh Iran tuyên bố treo thưởng cho việc bắt giữ viên phi công này. Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cũng thực hiện chiến dịch nghi binh nhằm đánh lạc hướng quân đội Iran, khiến họ tin rằng phi công đã được giải cứu và đang rời khỏi nước này trong một đoàn xe trên bộ. Cuối cùng, CIA tìm ra nơi ẩn náu của phi công và chuyển thông tin cho Lầu Năm Góc.

Phao cứu sinh SERE

Trước khi được giải cứu thông qua chiến dịch có sự tham gia của nhóm biệt kích SEAL Team 6 thuộc Hải quân Mỹ cùng hàng chục máy bay, kỹ năng sinh tồn đã giúp phi công này sống sót trong môi trường nguy hiểm ở Iran suốt 36 giờ.

Anh đã vận dụng các kỹ thuật được học trong khóa huấn luyện SERE, ghép ký tự đầu tiên của các từ Survive (Sinh tồn), Evade (Trốn tránh), Resist (Kháng cự) và Escape (Thoát hiểm). Khóa huấn luyện đặc biệt này trang bị cho phi công khả năng ẩn nấp, di chuyển cẩn thận qua địa hình có nguy cơ cao bị đối phương bắt và liên lạc an toàn với các đội cứu hộ. Phi công trong vụ này đã sử dụng thiết bị định vị và thiết bị liên lạc an toàn để phối hợp với lực lượng cứu hộ, một yếu tố quan trọng giúp anh ta sống sót.

Ngoài ra, hệ thống sinh tồn tiên tiến của Không quân Mỹ cũng đóng vai trò then chốt trong sự sống sót của phi công nêu trên. Hệ thống này bao gồm một bộ dụng cụ sinh tồn với các thiết bị liên lạc, báo hiệu, thực phẩm, nước và vật tư y tế. Bộ dụng cụ được thiết kế để giúp phi công sống sót trong 3-7 ngày, giúp các đội cứu hộ có thời gian xác định vị trí và giải cứu họ. Khả năng trốn thoát cuộc truy bắt và sống sót cho đến khi được giải cứu của phi công trên chiếc F-15 là một ví dụ về hiệu quả của hệ thống sinh tồn này và chương trình SERE.

Trong khóa huấn luyện SERE, nhiệm vụ hàng đầu là sống sót, bao gồm việc ưu tiên các nhu cầu giảm thiểu căng thẳng và tiêu hao năng lượng. Chương trình SERE đưa các phi công vào nhiều môi trường thù địch, từ sa mạc đến Bắc Cực, theo một video của Không quân Mỹ. Video cho thấy các học viên được thả xuống nước và hạ cánh bằng dù. Họ lấy nước uống từ sông, nhóm lửa bằng củi, dùng lá cọ và đá tảng để dựng lều, cũng như chế biến các món ăn từ xương rồng và bọ cánh cứng.

Trường hợp áp dụng SERE nổi tiếng nhất là Đại úy Scott F. O’Grady vào năm 1995, khi chiến đấu cơ F-16C của ông rơi do trúng tên lửa của lực lượng Serbia trong Chiến tranh Bosnia. Trong 6 ngày ẩn nấp trong vùng nguy hiểm, O’Grady ăn kiến ​​và di chuyển vào ban đêm, tìm cách liên lạc với căn cứ bằng các tín hiệu vô tuyến. O’Grady đã xác định vị trí của mình bằng cách bắn pháo sáng khói khi một trực thăng Mỹ xuất hiện.

Sứ mệnh giải cứu viên phi công có sự tham gia của hơn 100 biệt kích thuộc lực lượng đặc nhiệm, được đưa đến trên các máy bay vận tải chuyên dụng MC-130J. Một quan chức quân sự Mỹ cho biết chiến dịch về cơ bản tiêu tốn 300 triệu USD vì họ phải bỏ lại và cho nổ tung 2 chiếc C-130 cùng 4 chiếc trực thăng MH-6 Little Bird. Trong khi đó, phía Iran bắn hạ 2 chiếc máy bay không người lái MQ-9 tham gia chiến dịch giải cứu.

HẠNH NGUYÊN (Theo WSJ, Republic World)

Chia sẻ bài viết