Eo biển Hormuz đang dần được thông suốt sau thỏa thuận hòa bình sơ bộ giữa Mỹ và Iran, nhưng những gián đoạn vận chuyển quy mô lớn do xung đột gây ra đã buộc các nhà sản xuất dầu mỏ vùng Vịnh phải tìm kiếm các tuyến đường xuất khẩu thay thế, đồng thời mở rộng các đường ống hiện có để tránh một trong những điểm nghẽn năng lượng quan trọng nhất thế giới.
Eo biển Hormuz đóng vai trò là tuyến đường xuất khẩu chính cho các quốc gia vùng Vịnh, bao gồm Saudi Arabia, Iraq, Kuwait, Qatar, Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) và Iran, vận chuyển khoảng 20% lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên hóa lỏng (LNG). Nó cũng rất quan trọng đối với xuất khẩu phân bón toàn cầu, với khoảng 1/3 lượng phân bón thương mại quốc tế thường đi qua eo biển này.
Các đường ống dẫn dầu thô hiện hữu và đang xây dựng ở các nước giáp eo biển Hormuz. Ảnh: FT
Các hành lang thay thế
Các nhà phân tích năng lượng cho biết Saudi Arabia và UAE đã đẩy nhanh nỗ lực tăng cường các hành lang xuất khẩu thay thế, với các cuộc thảo luận về đường ống dẫn dầu mới và mở rộng công suất đang được đẩy mạnh sau cuộc xung đột.
Naveen Das, nhà phân tích cao cấp của công ty dữ liệu và phân tích toàn cầu Kpler có trụ sở tại Anh, cho biết Saudi Arabia đang tích cực thảo luận về việc tăng thêm công suất cho đường ống dẫn dầu Đông - Tây của mình, trong khi UAE dự kiến sẽ bổ sung vào đường ống dẫn dầu thô Abu Dhabi (ADCOP) hiện có bằng một đường ống khác đi vào hoạt động ngay từ năm tới, bổ sung thêm 1,5 triệu thùng dầu mỗi ngày công suất xuất khẩu.
UAE đã vận hành đường ống ADCOP từ năm 2012 với công suất 1,5 triệu thùng/ngày. Riêng đường ống dẫn dầu Đông - Tây của Saudi Arabia vận chuyển dầu thô từ các mỏ dầu ở khu vực phía Đông đến cảng Yanbu trên bờ biển Biển Đỏ. Trong cuộc chiến ở Trung Đông vừa qua, Riyadh đã tuyên bố mở rộng công suất đường ống từ 5 triệu thùng/ngày lên 7 triệu thùng/ngày.
Với UAE, đường ống dẫn mới sẽ giúp nâng công suất xuất khẩu dầu của nước này lên 3 triệu thùng/ngày. Trong khi đó, sau khi eo biển Hormuz mở cửa trở lại, xuất khẩu dầu mỏ của UAE từ tháng 6 tăng lên 4,3 triệu thùng/ngày, gần bằng 85% mức trước chiến tranh và tăng mạnh so với 1,9 triệu thùng hồi tháng 3.
Vì vậy, để giảm phụ thuộc vào eo biển Hormuz, Bộ trưởng Ngoại thương UAE Thani Al Zeyoudi tuyên bố nước này sẽ tiếp tục đầu tư lớn vào các đường ống mới, mở rộng hệ thống vận chuyển đường sắt và đường bộ. Theo ông Al Zeyoudi, trọng tâm kế hoạch của UAE là mở rộng quy mô của các cảng phía Đông Dibba, Fujairah và Khor Fakkan nằm ngoài eo biển trên vịnh Oman. Ngoài ra UAE cũng sẽ xây dựng thêm ít nhất một cảng tại khu vực này. Chi phí ước tính để thực hiện tham vọng này của UAE có thể lên tới hàng tỉ USD. Tuy nhiên, giới phân tích nhận định việc UAE quyết tâm giảm hoàn toàn sự phụ thuộc vào eo biển Hormuz là điều không dễ dàng.
Riêng Iraq, nước phụ thuộc quá lớn vào eo biển Hormuz, đã phê duyệt kế hoạch đẩy nhanh công suất xuất khẩu dầu thô thông qua mạng lưới đường ống Kirkuk - Ceyhan, hy vọng sẽ làm tăng gấp 3 lần lượng xuất khẩu hiện tại từ 220.000 thùng mỗi ngày lên 770.000 thùng. Đồng thời, nước này đã triển khai xây dựng đường ống mới Basra - Haditha có công suất 2,5 triệu thùng/ngày để vận chuyển dầu thô từ miền Nam Iraq ra các tuyến xuất khẩu qua Baniyas (Syria), Ceyhan (Thổ Nhĩ Kỳ) và Aqaba (Jordan), cung cấp một phần nguyên liệu cho các nhà máy lọc dầu ở khu vực miền Nam, Trung và Bắc Iraq. Trong thời gian eo biển Hormuz đóng cửa, xuất khẩu dầu mỏ của Iraq gần như bị tê liệt hoàn toàn, với mức giảm lên đến hơn 97% hồi tháng 5-2026, tương đương 3,22 triệu thùng/ngày.
Tình thế nan giải
Mặc dù các đường ống dẫn dầu có thể giúp ích phần nào sự phụ thuộc vào eo biển Hormuz, nhưng việc mở rộng công suất của chúng có thể mất vài năm và Iran luôn có thể nhắm mục tiêu vào chúng trong bất kỳ cuộc xung đột nào trong tương lai. Cuộc chiến tranh vừa qua đã cho phép Iran gia tăng quyền lực ảnh hưởng của mình đối với eo biển Hormuz và có thể họ sẽ quyết tâm thu phí qua lại tuyến đường này sau khi thỏa thuận hòa bình cuối cùng với Mỹ được ký kết. Tình hình eo biển Hormuz những ngày qua cho thấy Tehran sẵn sàng đe dọa bất kỳ tàu thuyền nước ngoài đi qua Hormuz mà không đi theo quy định hay xin phép cơ quan quản lý của nước này.
Các nhà phân tích cũng chỉ ra rằng trong khi cơ sở hạ tầng đường tránh eo Hormuz hiện có chủ yếu tập trung vào dầu thô, khu vực vùng Vịnh ngày càng trở thành một nhà xuất khẩu lớn các sản phẩm dầu mỏ tinh chế nhưng vẫn chưa có cơ sở hạ tầng đường vòng vận chuyển chuyên dụng. Vùng Vịnh cũng là một khu vực sản xuất khí đốt tự nhiên khổng lồ, đặc biệt là Qatar, nhưng lại không có đường ống dẫn khí chính nào để xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Trong khi đó, khác với UAE hay Saudi Arabia, Kuwait, Qatar và Bahrain phải đối mặt với những hạn chế về địa lý khiến việc xây dựng các tuyến đường vòng eo biển Hormuz quy mô lớn trở nên khó khăn hơn. Do đó, các quốc gia này sẽ tập trung vào việc mở rộng các cơ sở lưu trữ và cải thiện hệ thống quản lý rủi ro trong ngắn hạn.
Trước lo ngại của các đồng minh khu vực, Mỹ tuyến bố sẽ tiếp tục duy trì năng lực quân sự răn đe nhằm đảm bảo dòng chảy thương mại qua Hormuz. Nhưng giới phân tích cho rằng các nước vùng Vịnh cần xây dựng mối quan hệ kinh tế phụ thuộc lẫn nhau với Iran mới là yếu tố cốt lõi của bất kỳ chiến lược nào nhằm quản lý mối đe dọa do nước cộng hòa Hồi giáo này gây ra trong tương lai. Đầu tư ít nhất 300 tỉ USD vào Iran theo điều khoản thỏa thuận sơ bộ Mỹ - Iran là một mục tiêu chiến lược cho hòa bình lâu dài của khu vực.
Giáp với Iran ở phía Bắc và Oman cùng UAE ở phía nam, eo biển Hormuz chỉ rộng khoảng 50km ở lối vào và lối ra, thu hẹp xuống còn khoảng 33km ở điểm hẹp nhất. Mặc dù chiều rộng hẹp như vậy, eo biển này đủ sâu cho những tàu chở dầu lớn nhất thế giới đi qua.
ĐỨC TRUNG