26/08/2010 - 21:22

Trẻ sinh thiếu tháng có nguy cơ mắc bệnh lý màng trong

* BS DIỆP LOAN
Bệnh viện Nhi đồng TP Cần Thơ

Bệnh lý màng trong thường xảy ra ở trẻ sơ sinh non tháng, nhất là trẻ sinh non dưới 28 tuần tuổi thai. Bệnh gây hội chứng suy hô hấp cấp, rất nguy hiểm đối với bệnh nhi. Bệnh có thể điều trị khỏi nếu được chẩn đoán đúng, kịp thời và có thể điều trị dự phòng cho đối tượng có nguy cơ.

Chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng TP Cần Thơ. Ảnh: K.L 

Bệnh màng trong còn được gọi là hội chứng suy hô hấp cấp, gây suy hô hấp nặng, tiến triển ở trẻ sơ sinh sanh non tháng. Trước hết, cần hiểu về màng trong và sự hình thành màng trong. Thành phần chính của Surfactant là Dipalmitylphosphatidylcholin (lecithin), Phosphatidylglycerol, Aporoteins (Surfactant proteins: SP-A, B, C, D), Cholesterol. Cùng với sự phát triển của tuổi thai, số lượng phospholipids càng được tổng hợp nhiều và được dự trữ trong các tế bào phế nang type II. Các thành phần hoạt tính này được phóng thích vào bên trong phế nang có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt và duy trì tính ổn định của phế nang, ngăn ngừa xẹp các phế nang nhỏ cuối kỳ thở ra. Tuy nhiên, số lượng surfactant được sản xuất ra hoặc được phóng thích vào trong phế nang đôi khi lại không đủ để đáp ứng nhu cầu cho trẻ sanh non tháng hoặc do nhiều nguyên nhân khác góp phần ức chế tổng hợp chất surfactant. Do đó, ngay sau khi ra đời hoặc sau một thời gian thở bình thường, nhiều phế nang bị xẹp do thiếu surfactant và gây suy hô hấp và tử vong rất nhanh.

Bệnh màng trong là một trong những nguyên nhân quan trọng gây tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh sanh non tháng. Khoảng 30% trẻ sơ sinh tử vong do bệnh lý màng trong hoặc các biến chứng của nó. Tần suất mắc bệnh tỷ lệ nghịch với tuổi thai và cân nặng lúc sinh (28 tuần tỷ lệ mắc bệnh là 60% -80%, trên 37 tuần tỷ lệ mắc bệnh là 5%; tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ mới sinh dưới 2.500g khoảng 10% – 15%).

Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh màng trong còn gia tăng ở các đối tượng như: bé trai, chủng tộc da trắng, trẻ được mổ lấy thai, trong trường hợp sanh đôi (trẻ thứ hai có nguy cơ mắc bệnh cao hơn trẻ đầu), tiền căn gia đình có trẻ bệnh màng trong, suy thai, sanh ngạt, mẹ bị tiểu đường trong suốt thời gian mang thai, mẹ bị xuất huyết 3 tháng cuối thai kỳ.

Điều trị bệnh lý màng trong thường được thực hiện ở các bệnh viện chuyên khoa, tuyến tỉnh hoặc trung ương. Bởi cần phải có đủ máy móc để hỗ trợ hô hấp cho trẻ và liệu pháp surfactant trong vòng 24 giờ sau sinh, đồng thời ủ ấm, giữ thân nhiệt khoảng 36,50C, phòng hạ đường huyết, đáp ứng nhu cầu nước, điện giải, năng lượng hằng ngày kết hợp điều trị các biến chứng nhiễm trùng (nếu có)... Tỷ lệ điều trị thành công bệnh lý màng trong phụ thuộc vào trọng lượng trẻ lúc sinh, tuổi thai nhi, điều trị dự phòng trước đó với corticoids cho mẹ và liệu pháp surfactant, phương tiện điều trị (CPAP, máy thở...), mức độ nặng nhẹ và biến chứng của bệnh.

Bệnh lý màng trong có thể phòng tránh theo một số lưu ý sau:

- Ở tuyến y tế cơ sở cần thực hiện tốt việc quản lý thai phụ, đặc biệt là đối với thai phụ có nguy cơ cao.

- Ở y tế tuyến tỉnh, trung ương: dự đoán trước sinh, đánh giá tình trạng của thai qua siêu âm, xác định tỷ lệ Lecithin/Sphingomyelin (L/S) trong dịch ối và điều trị nếu có thể được. Tránh để ngạt bào thai, giúp mẹ thở tốt và không bị xuất huyết khi chuyển dạ, có thể sử dụng liệu pháp corticoids cho mẹ (theo chỉ định của bs sản khoa).

Chia sẻ bài viết