Bệnh tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển và nước đang phát triển. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp bệnh THA là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
 |
|
Kiểm tra huyết áp cho bệnh nhân.Ảnh: K.L |
Tỷ lệ người bệnh THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện ở mức cao, đặc biệt là ở các nước phát triển. Tỷ lệ người bệnh THA trên thế giới trên 20% dân số (tính trên người lớn), ở Mỹ là 28,7% (2000), Canada là 22% (1992), Anh là 38,8% (1998), Thái Lan là 20,5% (2001), Trung Quốc là 27,2% (2001)... Tại Việt Nam, tỷ lệ người THA năm 1960 tại miền Bắc là 1%, năm 1992 là 11,7% - trung bình mỗi năm tăng 0,33%; đến năm 2002 tỷ lệ này là 16,3% - trung bình mỗi năm tăng 0,46%. Tốc độ gia tăng người bệnh THA ở vùng thành thị là 22,7%, ở nông thôn là 12,3%.
THA gây nên biến chứng nặng nề như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, mù lòa... không chỉ ảnh hưởng đến người bệnh, gia đình và xã hội. Hàng năm, xã hội phải tốn một khoản kinh phí rất lớn để trực tiếp điều trị bệnh nhân, phục vụ người bị liệt, mất sức, tàn phế do tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim...
Hiện nay, y học đã chứng minh các yếu tố nguy cơ gây nên bệnh THA, gồm: Người bệnh tiểu đường, rối loạn mỡ máu, tiền sử gia đình có người THA, tuổi cao, thừa cân- béo phì, hút thuốc, uống nhiều bia rượu, ít vận động thể lực, nhiều stress (căng thẳng, lo âu quá mức), ăn mặn quá mức, ăn nhiều chất béo... Như vậy, ngoài các một số yếu tố không thể can thiệp được như tuổi tác, tiền sử gia đình có nhiều yếu tố nguy cơ mà mỗi người có thể thực hiện được như chế độ ăn, hút thuốc, thừa cân, vận động thể lực... để phòng bệnh.
Điều chỉnh lối sống lành mạnh bao gồm các vấn đề:
- Giảm cân ở người thừa cân hoặc béo phì : Nếu tăng 5-10kg trọng lượng cơ thể so với tiêu chuẩn sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện THA. Tăng cân trong thời gian dài có nguy cơ mắc bệnh đến 48%, nguy cơ tăng dần ở phụ nữ tuổi mãn kinh, những người có vòng bụng to trên 85cm ở nữ và trên 98cm ở nam. Trọng lượng cơ thể được theo dõi bằng chỉ số BMI, được tính bằng cách lấy cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (mét). Chỉ số BMI ở người Việt Nam bình thường là nằm trong khoảng 18-22, nếu trên 22 là thừa cân, trên nữa là béo phì.
- Chế độ ăn nhiều rau, trái, ít chất béo: Nên ăn 3 bữa/ngày với khoảng một nửa thực phẩm là chất bột (cơm), một nửa là rau xanh và trái cây. Không dùng nhiều mỡ và chất ngọt; ăn nhiều chất xơ hòa tan, giảm mỡ bão hòa như mỡ động vật, dầu dừa, dầu cọ. Nên ăn chất béo có nguồn gốc thực vật như dầu thực vật, dầu mè, dầu hướng dương. Acid béo có trong cá là omega-3 và các loại hạt có tác dụng hạ cholesterol xấu và giảm nguy cơ làm máu đông. Tuân thủ chế độ ăn như trên có thể làm giảm huyết áp từ 8-14mmHg (huyết áp tâm thu). Nhiều nghiên cứu cho thấy chất xơ trong rau quả và các loại ngũ cốc như gạo lứt, đậu có tác dụng chuyển hóa chất béo và làm hạ huyết áp. Các chất xơ, nhất là chất xơ tan được trong nước có khả năng hút nước và trương nở lên 8-10 lần thể tích ban đầu, qua đó có thể kết dính và đào thải nhiều cặn bã và chất độc ra khỏi cơ thể. Chất xơ này cũng hút chất mật do cơ thể sản sinh ra để tiêu hóa các chất béo và đào thải chúng ra theo đường ruột, buộc cơ thể phải huy động kho dự trữ cholesterol ở gan để tạo ra acid mật mới, góp phần làm hạ độ cholesterol. Ăn nhiều rau quả làm tăng lượng kali và ít natri. Chuối, dưa hấu, khoai tây có lượng kali cao. Lượng kali cao có tác dụng tốt trong ổn định huyết áp. Ăn nhiều cá, giảm thịt đỏ, nhất là loại thịt đỏ (thịt heo, thịt bò, trứng) có hàm lượng mỡ bão hòa cao là nguồn gốc phát sinh chứng xơ vữa động mạch Tàu hủ có nhiều chất xơ, chất khoáng, chất chống oxy hóa là nguồn chất đạm và chất béo lý tưởng cho phòng chống THA.
- Chế độ giảm muối, giàu kali và can xi: Nhu cầu muối ăn trung bình là 15g/ngày, trong đó 10g có sẵn trong thực phẩm tự nhiên, vì vậy chỉ cần 5g (tương đương 1 muỗng cà phê) mỗi ngày cho một người lớn là đủ. Người làm việc nặng nhọc, ra nhiều mồ hôi có thể cần nhiều hơn. Tuy nhiên, người miền Tây chúng ta có thói quen ăn rất mặn, ước lượng trung bình sử dụng tới 18-20g muối mỗi ngày, thông qua các món dưa muối, cá khô, thịt kho mặn, mắm chưng, trái cây chua chấm muối cục... Ngoài ra, người dân cũng thường dùng các thực phẩm như: mì gói, bánh snack, phụ gia thực phẩm có gốc sodium (natri) có tác dụng tương tự muối ăn (NaCl) như bột nổi, bột nở, muối tiêu, bột ngọt.
- Tăng cường hoạt động thể lực: Tránh lối sống tĩnh tại, hoạt động thể lực vừa phải, đều đặn như: đi bộ, bơi lội. Có thể thực hiện 3-4 lần mỗi tuần, mỗi lần ít nhất 30 phút.
- Bỏ thuốc lá và bia rượu: Thuốc lá có chất kích thích hệ giao cảm làm co mạch gây tăng huyết áp. Người đang điều trị bằng thuốc hạ áp thì uống bia rượu quá mức sẽ làm giảm tác dụng của thuốc. Người ta thấy rằng nếu dùng một lượng rượu nhỏ hàng ngày lại có tác dụng tốt cho tim mạch, nhưng nếu dùng nhiều thì có tác dụng ngược lại. Mỗi ngày, không nên uống quá 2 cốc nhỏ rượu.
BS. DƯƠNG PHƯỚC LONG
Trung tâm Y tế dự phòng TP Cần Thơ