Một cuộc đua vũ trang về công nghệ quốc phòng đang leo thang dưới đáy biển, nơi có hàng triệu km cáp ngầm vận chuyển 98% dữ liệu quốc tế của thế giới.

GrayShark trong cuộc thử nghiệm trên biển vào năm ngoái. Ảnh: EuroAtlas-EvoLogics
Mặt trận mới
Theo công ty nghiên cứu viễn thông TeleGeography, tính đến đầu năm nay, hơn 1,5 triệu km cáp dưới đáy đại dương đang được sử dụng trên toàn cầu. Tổng Thư ký Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Mark Rutte nói 1,3 triệu km cáp trong số này vận chuyển lượng giao dịch tài chính ước tính trị giá 10.000 tỉ USD/ngày.
Bên cạnh các tuyến cáp viễn thông và đường ống dầu khí, mạng lưới cáp điện dưới biển ngày càng lớn cũng đang kết nối các thị trường điện và truyền tải năng lượng từ các trang trại điện gió ngoài khơi vào đất liền.
Trong khi đó, việc triển khai rộng rãi máy bay không người lái trong cuộc xung đột Ukraine đã cho thấy cách các hệ thống tự hành thay đổi bản chất của chiến tranh. Môi trường hàng hải hiện đang trở thành “mặt trận hợp lý tiếp theo”.
Hồi tháng 7, hãng đóng tàu Fincantieri (Ý) đã công bố kế hoạch chi gần 690 triệu USD để mua cổ phần đa số tại 4 công ty, với mục đích mở rộng năng lực trong các lĩnh vực thiết bị không người lái dưới nước (AUV) và trên mặt nước, khảo sát biển và hoạt động liên lạc dưới biển.
Hãng này tận dụng kinh nghiệm đóng tàu ngầm trong hơn một thế kỷ để chuyển từ thế giới “dưới nước truyền thống” sang thế giới “phi truyền thống”, bao gồm các tàu ngầm nhỏ hơn, AUV và viễn thông dưới nước. Theo đó, các tàu mặt nước trong tương lai sẽ đóng vai trò như “tàu mẹ”, điều phối các mạng lưới phương tiện hoạt động phía trên đáy biển và trong toàn bộ cột nước.
Fincantieri không đơn độc trong cuộc chơi này. Các tập đoàn quốc phòng lớn, trong đó có Thales của Pháp, đã xây dựng các mảng kinh doanh bao phủ các hệ thống sonar, năng lực tác chiến chống tàu ngầm, nhận diện thủy lôi và AUV.
Ở Đức, hãng công nghệ quốc phòng Euroatlas nhắm tới lĩnh vực bảo vệ đáy biển bằng cách phát triển AUV GrayShark. Thiết bị này có khả năng tránh chướng ngại vật và tuân theo các chỉ dẫn được lập trình sẵn nếu gặp sự cố bất ngờ. Chẳng hạn, khi kiểm tra một đường ống, nó có thể phát hiện một vật thể giống thủy lôi, báo cáo vụ việc cho người vận hành và chờ chỉ đạo tiếp theo.
Thay vì dùng tàu chiến để bảo vệ từng km cáp, các đội AUV có thể liên tục tuần tra ở những khu vực dưới đáy biển và tập hợp lại khi phát hiện điều bất thường.
Theo Verineia Codrean, Giám đốc chiến lược và quan hệ đối tác của Euroatlas, đây là một vấn đề về quy mô bởi các tàu khu trục nhỏ, tàu ngầm và máy bay tuần tra biển quá đắt đỏ và khan hiếm để có thể duy trì sự hiện diện liên tục trên những khu vực rộng lớn - nơi có các tuyến cáp, đường ống và những tài sản chiến lược khác.
Song song đó, Euroatlas cũng đang phát triển phiên bản GrayShark sử dụng pin nhiên liệu hydro, với khả năng hoạt động dưới nước tới 16 tuần hoặc di chuyển 8.000 hải lý. Hãng đã ký hợp đồng trị giá hơn 115 triệu USD nhằm cung cấp tàu tuần tra này cho một số lực lượng hải quân châu Âu.
Hải quân Anh, Mỹ và Úc đã thử nghiệm công nghệ bảo vệ đáy biển trong cuộc tập trận Lanternfish hồi mùa hè năm 2026. Anh cũng đã hoàn thành đợt triển khai tàu lượn đại dương kéo dài 64 ngày trong tháng này, đánh dấu hoạt động sử dụng thiết bị không người lái lớn và lâu nhất của Luân Đôn.
Rào cản vật lý
Tuy nhiên, môi trường dưới nước đặt ra những rào cản vật lý lớn hơn nhiều so với tác chiến trên không. Tầm nhìn quang học gần như bằng không ở độ sâu lớn, sóng vô tuyến tiêu hao nhanh khiến việc liên lạc và truyền dữ liệu điều khiển phải phụ thuộc vào sóng âm hoặc các trạm thu phát chuyên dụng.
Các AUV hiện nay chủ yếu phục vụ mục đích trinh sát, cảnh báo sớm và răn đe thay vì thay thế hoàn toàn tàu ngầm quy ước. Giải pháp tối ưu vẫn là sự kết hợp tác chiến hiệp đồng giữa khí tài có người lái và mạng lưới AUV phân tán.
HẠNH NGUYÊN (Theo CNBC, Startup Fortune)