Trong “Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa” từ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ, máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được... Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”...
Tháng 10-1947, trong bài “Phê bình và sửa chữa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “...Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: Công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phi trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”.
Đọc lại những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh , ai cũng thấm nhuần sự quan tâm sâu sắc, cũng như quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Bác đối với dân trí và trí thức của cán bộ ở nông thôn nước ta. Lại ngẫm chuyện xưa, nhiều triều đại “an dân lập thế”, nhà vua đã có những kế sách, chính sách nâng cao dân trí, bồi đắp “quan trí”, tạo điều kiện phát triển, đào tạo nhân tài cho các huyện, làng, xã. Ngày xưa, chưa định rõ chế độ bầu cử, dân cử, các chức sắc, vị thế cai quản ở địa phương thường được nhà vua hoặc chính quyền cắt cử, bổ nhiệm. Nhiều triều đại phong kiến nước ta rất coi trọng chế độ thi cử hàng năm và dựa vào đó để chọn người có trình độ, năng lực, đạo đức ra làm quan, đặt ra “chuẩn văn hóa”, học vị khá cao khi bổ nhiệm nhân sự ra làm quan. Dù cho những thời xa xưa ấy sự phát triển kinh tế-xã hội còn ở mức thấp nhưng đã làm quan là phải thực sự đem hết tài trí ra để “phò dân, giúp nước”. Ví dụ như muốn làm Lý trưởng, thấp nhất phải có bằng Tú tài ( tương đương với tốt nghiệp PTTH hiện nay), làm Quan Tri huyện thì học vấn thấp nhất phải là ông Cử (Cử nhân), hoặc quan Phó bảng (Bảng nhãn, tương đương Thạc sĩ ngày nay), cao hơn là Trạng nguyên (tương đương Tiến sĩ).
Cũng ngày xưa, có vị đỗ Bảng nhãn, Trạng nguyên được vua “bổ” làm Quan Tri huyện lúc vừa mới qua trường thi, có bằng cấp. Vì thế, có người làm Tri huyện khi tuổi còn rất trẻ, chỉ mới mười tám đôi mươi. Trong khi đó, cấp thuộc quyền lại có những cụ đã trên 60 tuổi. Quan Tri huyện được nhà vua trao nhiều thẩm quyền, nên hầu như rất ít quan lại thuộc cấp dám ỷ lại sự cao tuổi mà bất phục tùng Quan Tri huyện.
 |
|
Cán bộ khuyến nông cùng nông dân nuôi tôm xã Trường Thành, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ kiểm tra độ phát triển của tôm càng xanh nuôi trên ruộng lúa. Ảnh: HÀ VĂN |
Còn hiện nay, trăn trở thay, có nhiều mặt nếu chiếu theo quan điểm “dụng nhân như dụng mộc” lại không bằng thời xưa. Các thể chế, cơ chế đào tạo, quản lý, phân bổ cán bộ qua đào tạo, có văn bằng hiện còn nhiều mặt hạn chế. Sinh viên ra trường có trình độ tốt nghiệp đại học, nhưng nếu như chưa phải là đảng viên, hoặc không được đưa vào “diện cơ cấu” thì thường phải làm trợ lý, giúp việc cho lãnh đạo có “ghế” cao hơn mình; hoặc bị “già hóa” đi bởi đem trình độ của mình giúp cấp trên “tác nghiệp” trong lãnh đạo; phải làm công tác nghiên cứu, tổng hợp suốt thời gian quá dài. Cách thức dùng người (dụng nhân) kiểu này vô hình trung lại đẻ ra cái lối sống rất sung sướng và an nhàn cho không ít người có chức có quyền là: Sống và tiến thân bằng cái đầu người khác. Đó là một nghịch lý tai hại, tạo ra một sức ì, trì kéo sự phát triển mang tính tự nhiên và cần thiết đảm bảo cho sự bền vững của xã hội.
Cách thức dùng người như thế cũng tạo ra mảnh đất màu mỡ cho thói kiêu ngạo, cơ hội, tham lam, thực dụng phát sinh. Không ít trí thức là nhân tài thực sự của đất nước đã bị “teo héo” dần bởi cách xử sự trên- dưới như : “Anh không thể tồn tại nếu như anh “cậy” có trình độ mà không tuân thủ nghe tôi”. Ngoài ra, còn phải kể đến tình trạng, có nhiều vị lãnh đạo vẫn nhìn cấp dưới thuộc quyền bằng con mắt kẻ cả, gia trưởng, bảo thủ, không dám giao việc, giao chức sớm cho nhân tài khi họ còn trẻ vì sợ họ chưa đủ kinh nghiệm! Đó cũng là cái cớ có vẻ hợp pháp để “giữ ghế” thêm lâu. Thực trạng đó đã trì kéo xã hội chậm tiến về phía trước hoặc rơi vào thụt lùi, không kém gì tội tham nhũng.
Ngày 5-8-2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 26-NQ/TW (Hội nghị lần thứ 7 - Ban Chấp hành Trung ương khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về “tam nông”). Về mục tiêu phát triển “tam nông” đáp ứng nhu cầu sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết đã nêu rõ: “Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn... Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân để chuyển nghề, xuất khẩu lao động; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở. Hình thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực; đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn. Thực hiện tốt việc xã hội hóa công tác đào tạo nghề”.
Nghị quyết cũng nêu rõ mức phấn đấu nâng cao trình độ cho cán bộ địa phương đến năm 2020 đạt “tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%”.
Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về “tam nông” ra đời giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang triển khai ngày càng sâu rộng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chúng ta cần đọc lại những lời dạy quý báu của Bác để học tập và làm theo đạo đức, tư tưởng chỉ đạo của Người về “tam nông”. Sinh thời, Bác đã nhiều lần gửi thư cho làng, xã, HTX nông nghiệp; thăm và nói chuyện với nông dân, cán bộ làng, xã; viết nhiều bài báo khen ngợi, phê bình chuyện “tam nông”, sự cấp bách và cần thiết phải nâng cao trình độ dân trí, trình độ lãnh đạo các cấp khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Cách đây 61 năm, báo “Cứu quốc” số ra ngày 26-9-1947 đăng bài viết của Bác khen ngợi và khuyến khích phong trào “Bình dân học vụ” ở một xã vùng sâu thuộc tỉnh Thái Bình, nhằm nâng cao dân trí vùng nông thôn. Bác viết: “Tôi được tin rằng: Từ tháng 5 này, đồng bào trong xã đều biết chữ. Tôi rất vui lòng. Thế là tốt lắm. Có kết quả tốt đẹp đó, là nhờ các cụ phụ lão hăng hái hô hào, các vị thân sĩ hăng hái giúp đỡ, các anh em bình dân học vụ hăng hái dạy dỗ và toàn thể đồng bào hăng hái học tập. Tôi mong xã N.L. nay đã thành một xã kiểu mẫu trong cuộc đấu tranh chống giặc dốt, thì trong mọi công việc kháng chiến, kiến quốc, xã N.L. cũng sẽ cố gắng làm kiểu mẫu. Tôi thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào xã N.L. và khuyên đồng bào cứ cố gắng học thêm cho tiến bộ nữa”.
Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về “tam nông” đang được các cấp ủy Đảng tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện trên cả nước. Nhằm đào tạo, quản lý, sử dụng, lựa chọn để dùng “đúng người, đúng việc”, nâng cao chất lượng cán bộ cho khu vực nông thôn, nông nghiệp trong tình hình mới và phát huy quyền dân chủ trong bầu cử cán bộ, Chính phủ đã cho phép một số địa phương tiến hành thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường và bầu trực tiếp chủ tịch UBND xã. Để việc này sớm có hiệu quả, rút ra được những kinh nghiệm bổ ích, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng cho biết: Trước mắt, có 4 thành phố trực thuộc Trung ương và 6 tỉnh sẽ được chỉ đạo làm thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp quận, huyện; phường, và 500 xã được giao thí điểm toàn dân bầu chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Hy vọng rằng cách làm này sẽ góp phần tạo ra một bước đột phá trong việc đổi mới cơ cấu tổ chức cán bộ và nâng cao chất lượng hiệu quả công tác của cán bộ khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về “tam nông”.
CHU MÃ GIANG