(CTO) - Truyện cổ tích dân gian có “Sự tích hoa cúc trắng” để kể về tấm lòng hiếu thảo của người con với mẹ. Nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10 năm nay, xin kể về một “đóa hoa cúc trắng” như vậy.
Cô Hai bên mẹ.
Truyện cổ tích ấy kể rằng, có hai mẹ con nghèo sống nương tựa lẫn nhau. Ngày nọ, người mẹ bệnh nặng, sắp không qua khỏi, người con chạy vạy khắp nơi tìm phương cứu mẹ. Theo lời chỉ dẫn của một cụ già, người con ấy băng rừng vượt núi hiểm nguy đi tìm một bông hoa trắng làm thuốc cứu mẹ.
Nhớ lời cụ già, mỗi bông hoa là một ngày mẹ còn sống, nhẩm đếm, bông hoa ấy chỉ có mấy mươi cánh. Người con ấy đã xé nhỏ từng cánh hoa để mong mẹ được sống lâu hơn. Tấm lòng của người con động lòng trời, mỗi cánh hoa xé nhỏ lại thành nhiều cánh hoa, bông hoa trở nên nhiều cánh không đếm xuể… Người đời gọi đó là hoa cúc trắng, để tôn vinh một tấm lòng hiếu thảo.

Cô Hai dành cả thanh xuân và tuổi xế chiều để lo cho mẹ.
Khi biết đến chuyện của cô Đặng Thị Hai (ngụ phường An Bình, TP Cần Thơ), tôi nghĩ ngay đến câu chuyện cổ tích ấy. Một “đóa hoa cúc trắng” giữa đời thường.
Cô Hai năm nay đã 76 tuổi, còn mẹ cô, cụ Nguyễn Thị Lót còn thiếu 2 tuổi nữa là đã tròn trăm. Trong căn nhà trong con hẻm sâu ngoằn nghèo vắng tiếng xe, hai mẹ con cô Hai an trú trong tình mẫu tử.
Cô Hai vốn có một thời xuân sắc. Nhiều người muốn cưới cô làm vợ vì đẹp người, đẹp nết. Nhưng nghĩ mẹ có một mình, cô không đành, nên từ chối: “Cô đi rồi, ai lo cho mẹ!”.
Phận gái 12 bến nước, dẫu rằng có bến đục, bến trong, nhưng cô quyết không chọn bến nào. Cô chọn bến đỗ bên mẹ trọn đời mà thôi.
Chuyện cách đây hơn nửa thế kỷ!
Nay thì cô Hai đã thành bà lão tuổi “xưa nay hiếm” và mẹ cô cũng đã vào độ tuổi “xưa nay quá hiếm”. Cô vẫn bên mẹ không rời. Sáng, cô lo cho mẹ uống sữa, ăn chút bánh, cháo. Cô lại lo trầu cau để mẹ khỏi buồn miệng. Xong, cô lại lo cho mẹ ăn trưa, sữa xế, cơm chiều. Bàn tay mẹ nổi mẫn đỏ, cô xuýt xoa xoa dầu, nắn bóp: “Đau nhiều không, má?”.
Lo cho mẹ rồi, cô Hai lại lủi thủi ngồi ăn cơm một mình, bên bếp củi còn nhen mùi khói.

Cô Hai ngồi ăn cơm một mình cùng với những chén cơm cúng kỉnh tiên tổ.

Lưng còng, sức yếu mà tình con với mẹ vẫn tròn đầy trong lòng cô Hai.
Tuổi 76 rồi, mà cô vẫn nói chuyện với má “ngọt ngây”: “Má, đói bụng chưa má?”, “Má ơi, cháu má tới thăm nè!”...
Hồi trước, khi cô Hai còn khỏe, cô lặn lội dưới kinh rạch, mương vườn, bắt ốc, hái rau tập tàng, rau muống đồng ra ngồi ven đường Nguyễn Văn Cừ bán. Nhà có dừa tươi, dừa khô, mục măng, buồng chuối, cô cũng có thêm chút tiền. Hai mẹ con sống nhờ vào công việc mưu sinh đó.
Chừng 2 năm nay, mẹ cô Hai yếu, cô Hai sức khỏe cũng “khi trồi khi sụt” nên cô ở nhà. Hai mẹ con lãnh “tiền người già”, mỗi người được 540.000 đồng/tháng. Cộng thêm bầy vịt đẻ mỗi ngày 7-8 trứng, thêm chút dừa, măng tre lâu lâu có bán, lại thêm các cháu họ hàng có gì cho đó, mẹ con cô cùng vượt qua những ngày tháng xế chiều.
Cô Hai hiền từ: “Bao nhiêu cũng đủ. Cô Hai đâu có ăn gì nhiều. Răng cỏ không có, nửa chén cơm, chút kho khô khô quẹt cũng rồi bữa. Có má, ráng lo cho má có sữa, bánh ăn đặng mạnh giỏi với má phải trầu, không có chịu không nổi”. Đời vậy mà vui, không than khổ, kể nghèo. Bao nhiêu cũng đủ!
Mẹ của cô Hai bây giờ lúc nhớ, lúc quên vì tuổi già trí giảm. Cô Hai vẫn bên mẹ từng phút giây, không ngán ngẩm, không muộn phiền, không buồn giận. Cô nói nhẹ hều: “Má mình mà, con!”.
Tôi hỏi cô Hai, cô có nghĩ phải hồi xưa cô chọn lập gia đình, bây giờ có con cháu vui vầy, thì sẽ hạnh phúc hơn. Cô hỏi lại tôi liền: “Để má cô có một mình, biết bây giờ cô còn má không?”. Câu trả lời của cô Hai làm tôi chảy nước mắt. Tình hiếu tử, cô Hai không giải thích dông dài, không khoe mẻ đạo lý cũng càng không ca ngợi bản thân, cô nói: “Má thương mình, thì mình thương má, vậy thôi!”.

Hai mẹ con trong bóng chiều tà.
Vậy đó, hồi xưa thì mẹ nuôi con, nay thì con lo cho mẹ. Hai mẹ con tìm hạnh phúc trong những điều bình dị nhất. Gian nan đời người, hai mẹ con đã cùng nhau san sẻ. Hai mẹ con hiểu ý nhau trong từng cách nói chuyện, đi đứng và cả những nếp sinh hoạt hằng ngày.
Viết tới đây, tôi nhớ hồi cụ Lót còn khỏe, bà nói với tôi rằng, điều bà sợ nhất không phải là chết, vì: “Chín mươi mấy tuổi rồi, còn sợ cái gì nữa!”. Cụ muốn sống, nhưng không phải sống cho bà mà sống vì con. “Tôi sợ tôi chết trước con tôi. Tôi bỏ nó lại tội nghiệp, bơ vơ, không chồng, không con…”, cụ nói với tôi như vậy.
Mấy năm gặp lại, lưng cô Hai đã còng, chậm chạp và yếu chân yếu tay lắm rồi. Cụ Lót thì cũng quên trước quên sau, mắt đã nhắm nghiền hoàn toàn, không còn thấy ánh sáng. Nhưng tôi tin rằng, bằng tấm lòng người mẹ, cụ Lót nhìn thấy rất sáng tấm lòng của một người con chí hiếu.

Cô Hai vẫn chắt chiu từng chút để lo cuộc sống hằng ngày và nhất là lo cho mẹ.
Trò chuyện với cô Hai khi chiều đã tắt. Cô Hai bỏ mùng, tấn kỹ, rọi bắt từng con muỗi, cho mẹ ngủ ngon. Cô chỉ tay về giá võng kế bên, nói: “Cô ngủ ở đây mấy năm nay rồi. Nằm gần, mẹ có cần gì kêu, đặng mà hay!”.
“Đóa cúc trắng” tinh khôi đẹp quá giữa đời này!
ĐĂNG HUỲNH