Châu Âu đang tăng chi tiêu quốc phòng lên mức kỷ lục nhưng vẫn chia rẽ sâu sắc giữa ưu tiên công nghiệp nội khối hay mua sắm vũ khí từ đồng minh bên ngoài.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron (trái) và Thủ tướng Đức Friedrich Merz. Ảnh: AP
Trở lại Nhà Trắng vào tháng 1-2025, Tổng thống Mỹ Donald Trump liên tục yêu cầu các thành viên Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tăng ngân sách quân sự. Hồi tháng 5, Washington thậm chí xem xét cắt giảm lực lượng, khí tài triển khai ở châu Âu nhằm thúc ép đồng minh tự chủ quốc phòng. Áp lực này cùng với việc Nga tăng cường hiện diện ở sườn phía Đông và tham vọng địa chính trị ngày càng lớn của Trung Quốc buộc châu Âu tiến hành đợt tái vũ trang mạnh mẽ nhất kể từ sau Chiến tranh Lạnh.
Năm 2025, chi tiêu quân sự của Liên minh châu Âu (EU) tăng lên 381 tỉ euro từ 218 tỉ euro của năm 2021. Ngân sách quân sự nhiều nước thành viên liên tục lập kỷ lục mới, hướng tới mục tiêu nâng chi tiêu quốc phòng lên 5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Châu Âu hiện là khu vực nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới.
Theo chiến lược “Tái vũ trang châu Âu”, EU đặt mục tiêu chi 800 tỉ euro đầu tư nâng cấp năng lực phòng thủ và răn đe vào năm 2030. Hồi tháng 7, Ủy ban châu Âu đã đề xuất 5 dự án quốc phòng xuyên biên giới quy mô lớn, mở đường tiếp cận nguồn vốn của EU.
Dù tăng ngân sách, châu Âu vẫn chật vật trước tình trạng thiếu hụt đạn dược, năng lực sản xuất quốc phòng chưa bắt kịp tốc độ đặt hàng và áp lực tài chính đè nặng khi phải duy trì viện trợ cho Ukraine. Cái khó nữa là EU chưa thể đạt tầm nhìn chung về cách thức xây dựng ngành công nghiệp quốc phòng tự chủ, với tranh cãi chủ yếu xoay quanh việc thúc đẩy chuỗi cung ứng nội địa hay duy trì mối quan hệ hợp tác xuyên Đại Tây Dương với Mỹ.
Những quan điểm trái ngược
Kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2, Pháp đã ủng hộ ý tưởng về quyền tự chủ chiến lược để bảo vệ lợi ích cốt lõi, trong đó châu Âu cần hành động như cường quốc độc lập, tự xây kho vũ khí hạt nhân và tổ hợp công nghiệp quân sự tách biệt khỏi Mỹ. Theo chiến lược “châu Âu trên hết”, Pháp hiện muốn ít nhất 65% trang thiết bị quốc phòng do công ty có trụ sở và chuỗi cung ứng trong EU sản xuất.
Trong khi đó, Đức - quốc gia dựa vào chiếc ô an ninh của Mỹ cùng NATO, vẫn duy trì ngân sách quốc phòng dưới 2% GDP từ thời hậu chiến. Tuy nhiên, bối cảnh địa chính trị mới buộc Berlin từ bỏ chính sách tiết kiệm và đặt mục tiêu nâng chi tiêu quốc phòng lên 3,5% GDP vào năm 2029.
Chiến lược của Đức khác với các đồng minh châu Âu. Ưu tiên tốc độ và hiệu quả phòng thủ tức thì, Berlin sẵn sàng mua sắm hoặc sản xuất vũ khí từ các đồng minh như Mỹ hoặc đối tác ngoài NATO như Hàn Quốc để đối phó mối đe dọa an ninh cận kề. “Chúng tôi hợp tác rất chặt chẽ với Mỹ và sẽ tiếp tục làm như vậy. Đơn giản là vì có những hệ thống vũ khí chúng tôi hiện chưa sở hữu nhưng rất cần thiết trong 5-10 năm nữa” - theo Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius.
Hệ quả thực tế
Bất chấp nỗ lực của Brussels dung hòa chủ nghĩa thực dụng ngắn hạn với chiến lược dài hạn, quan điểm trái ngược giữa Pháp và Đức đã tạo ra những hệ lụy rõ rệt, làm suy yếu các dự án chung và thúc đẩy chia rẽ trên khắp EU.
Đơn cử là vào tháng 6, sau tranh chấp công nghiệp không thể giải quyết, Đức và Pháp chính thức từ bỏ kế hoạch chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ tiếp theo trong chương trình Hệ thống Không quân Chiến đấu Tương lai trị giá 100 tỉ euro. Diễn biến này dấy lên nghi vấn về quan hệ hợp tác giữa 2 bên trong lĩnh vực xe tăng thuộc Hệ thống Chiến đấu Mặt đất Chủ lực (MGCS), trong đó Berlin được cho tìm kiếm quyền tự chủ quốc gia lớn hơn với các lựa chọn thay thế khác.
Từ năm ngoái, Đức bắt đầu đẩy nhanh dự án phát triển hệ thống vệ tinh quân sự độc lập trị giá 10 tỉ euro, cạnh tranh trực tiếp với mạng lưới kết nối an toàn IRIS² của EU. Nước này cũng thúc đẩy Mỹ cho phép sản xuất các hệ thống vũ khí tiên tiến tại Đức, đặc biệt là tên lửa đánh chặn Patriot và tên lửa hành trình Tomahawk.
Đối với Pháp, tất cả động thái trên là dấu hiệu cho thấy Berlin đang theo đuổi cách tiếp cận “Nước Đức trên hết” trong khi thúc đẩy cắt giảm ngân sách EU. Ngược lại, Berlin coi cách tiếp cận của Paris là quá bảo hộ và mang tính “ngoại lệ” để mang lại lợi thế cho các công ty Pháp. Thực tế này khiến Pháp bị cô lập trong các cuộc tranh luận nội bộ định hình chiến lược và các quỹ chung dành cho công nghiệp quốc phòng châu Âu.
MAI QUYÊN (Theo Euronews, Reuters)