* Bác sĩ ĐẶNG THANH HÙNG
Giám đốc Trung tâm TTGDSK tỉnh Trà Vinh
Loãng xương là bệnh lý của toàn hệ thống xương, có ảnh hưởng đến sức chịu đựng của toàn khung xương. Bệnh xảy ra thường ở người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ. Biến chứng của bệnh làm nguy cơ gãy xương. Hiện nay, bệnh này có tỷ lệ mắc tương đương với các bệnh về tim mạch, cao huyết áp, tiểu đường... và được xem như một “bệnh thầm lặng” lan rộng trên nhiều nước, có xu hướng ngày càng gia tăng.
Loãng xương là một rối loạn chuyển hóa của bộ xương (rối loạn chuyển hóa phospho và calci), làm tổn thương sức mạnh của xương đưa đến tăng nguy cơ gãy xương. Loãng xương thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh (tuổi từ 50 - 60). Bệnh diễn biến từ từ và thầm lặng, đôi khi không biết mình bị bệnh, cho đến khi bị biến chứng gãy xương, mới nhận ra bệnh tình. Biến chứng làm gãy xương thường ở cổ tay, đầu dưới xương quay, đốt sống và cổ xương đùi. Tình trạng gãy xương có thể xảy ra trong khi hoạt động hàng ngày, gây đau đớn, mất khả năng vận động, khả năng sinh hoạt. Đặc biệt, ở người lớn tuổi (loãng xương tuổi già) do sự già nua sinh lý của xương xảy ra sau 70 - 75 tuổi, thường thấy gãy đốt sống, gãy cổ xương đùi, cổ xương cánh tay. Ở tuổi già khi gãy xương, không chỉ gây tàn phế mà còn tăng nguy cơ tử vong vì giảm kháng thể. Loãng xương còn do nguồn gốc nội tiết, tăng năng võ thượng thận (liệu pháp corticoide kéo dài, hội chứng Cushing, tăng aldoteron huyết), hoặc loãng xương do nguồn gốc tiêu hóa, dinh dưỡng: Hội chứng kém hấp thu, cắt bỏ dạ dày, thiếu calci trong thực phẩm...). Ngoài ra, còn những nguyên nhân khác như: Bệnh tân sản, giảm phosphataz, sử dụng dài hạn heparin, homocystin-niệu, tăng calci niệu...
Bệnh loãng xương dễ nhận biết: Thường thấy đau mỏi ở cột sống, đau lan theo khoang liên sườn, đau khi ngồi lâu, khi thay đổi tư thế. Hoặc đau dọc các xương dài như xương cẳng chân, đau mỏi cơ bắp, ớn lạnh, hay bị chuột gút (vọp bẻ) các cơ..., hay có hiện tượng đầy bụng chậm tiêu, nặng ngực khó thở. Ở người bệnh loãng xương dễ bị gù lưng, giảm chiều cao, giảm khả năng vận động. Nếu chụp X quang xương và làm các xét nghiệm như: Xét nghiệm máu để đánh giá quá trình tạo xương, xét nghiệm nước tiểu để đánh giá quá trình hủy xương, và sinh thiết xương sẽ thấy được những tổn thương của xương.
 |
|
Bệnh nhân bị gãy xương do chứng loãng xương đang được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cầu Ngang (Trà Vinh). Ảnh: Quốc Việt |
Những biến chứng của bệnh loãng xương như: Đau kéo dài do chèn ép thần kinh, gù vẹo cột sống, biến dạng lồng ngực; gãy xương cổ tay, gãy lún đốt sống, gãy cổ xương đùi... làm cho chi phí điều trị rất lớn đối với bệnh này.
Để phát hiện sớm bệnh loãng xương để có cách điều trị và phòng bệnh tốt, trước hết cần theo dõi các yếu tố nguy cơ gây loãng xương như:
+ Kém phát triển thể chất từ khi còn nhỏ, đặc biệt là còi xương, suy dinh dưỡng.
+ Ít hoạt động thể lực, ít hoạt động ngoài trời (làm thiếu đi các tiền
vitamin D nên ảnh hưởng tới việc hấp thu calci).
+ Sinh đẻ nhiều lần, nuôi con bằng sữa mẹ mà không ăn uống đủ chất đặc biệt là Protid và Calci để bù đắp lại.
+ Bị các bệnh mãn tính đường tiêu hóa (dạ dày, ruột) làm hạn chế hấp thu calci, vitamin D và đạm.
+ Có thói quen sử dụng nhiều rượu, bia, cà phê, thuốc lá, làm tăng thải calci qua đường thận và giảm hấp thu calci ở đường tiêu hóa.
+ Thiểu năng tuyến sinh dục.
+ Bất động quá lâu ngày do chấn thương cột sống.
+ Bị các bệnh về nội tiết: Cường tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến vỏ thượng thận, tiểu đường, hoặc bị bệnh suy thận mãn, phải chạy thận nhân tạo lâu ngày gây rối loạn chuyển hóa và mất calci qua đường tiết niệu hay mắc các bệnh xương khớp mãn tính, đặc biệt là viêm khớp, thoái hóa khớp, phải sử dụng dài hạn một số thuốc kháng viêm nhóm Corticoid, làm giảm hấp thu calci ở ruột, tăng bài xuất calci ở thận và làm tăng quá trình hủy xương.
Việc phòng bệnh tốt nhất là quan tâm đến khám bệnh phát hiện bệnh sớm khi có các dấu hiệu đau mỏi mơ hồ ở cột sống, ở hệ thống xương khớp, dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, vọp bẻ... Khi được khám, các bác sĩ chuyên khoa sẽ kiểm tra bằng các kỹ thuật như chụp X quang xương hoặc cột sống, đo khối lượng xương và làm các xét nghiệm kiểm tra, phát hiện các yếu tố nguy cơ. Thực hiện khám bệnh và theo dõi định kỳ sẽ giúp cho người bệnh có biện pháp phòng tốt hơn.
Bệnh loãng xương có thể được cải thiện nhờ một chế độ ăn uống, sinh hoạt và thuốc men hợp lý. Sữa và các sản phẩm từ sữa (Bơ, phomat...) rất giàu calci, mà calci là thành phần cấu trúc quan trọng của xương. Vì vậy, cần cung cấp đủ calci cho cơ thể qua chế độ ăn uống và khả năng vận động. Phụ nữ mang thai nên ăn thức ăn đa dạng, bảo đảm đủ calci và chất đạm, giúp hình thành xương cho thai nhi trong suốt quá trình phát triển. Nên vận động điều độ, phù hợp lứa tuổi, tạo sự dẻo dai cho cơ thể. Tập thể dục vừa sức như đi bộ, đi xe đạp, bơi, lội... giúp cho xương được rắn chắc, hạn chế chứng loãng xương.