Kể từ khi Mỹ và Israel phát động cuộc chiến chống Iran, câu hỏi được đặt ra là Trung Quốc sẽ hành động ra sao trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và vận chuyển qua eo biển Hormuz.

Một trang trại năng lượng mặt trời ở Trung Quốc. Ảnh: Nikkei Asia
Ước tính, lượng dầu từ Iran chiếm hơn 10% tổng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc nhưng nguồn cung năng lượng của Bắc Kinh từ lâu đã được đa dạng hóa trên phạm vi quốc tế và nhờ vào chính sách điện khí hóa trong nước. Tuy nhiên, nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hơn 3 tháng thì đó sẽ là thách thức nghiêm trọng đối với Bắc Kinh. Năm 2025, nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục, lên tới 11,6 triệu thùng/ngày. Đáng chú ý, hơn 55% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc đến từ Trung Đông. Trong đó, Saudi Arabia chiếm 14,9% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc, Iran 13%, Iraq 11,2%, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) 6,4%, Oman 6,1%, Kuwait 3,3% và Qatar 1,3%. Ngoại trừ Oman, phần lớn lượng dầu này phải được vận chuyển qua eo biển Hormuz.
Nhiều nguồn tin từ Trung Quốc và phương Tây ước tính, khoảng 90% lượng dầu thô xuất khẩu của Iran được tiêu thụ tại quốc gia Đông Á này. Theo công ty nghiên cứu Kpler, Trung Quốc hồi năm ngoái mỗi ngày nhập khẩu 1,38 triệu thùng dầu từ Iran. Do đó, cuộc chiến ở Iran có 3 tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng của Trung Quốc. Một là, sản xuất và xuất khẩu dầu từ Iran chắc chắn bị gián đoạn trong ngắn hạn và thời điểm nối lại hoạt động sản xuất vẫn chưa rõ ràng. Hai là, Iran dọa đóng cửa eo biển Hormuz. Tính đến ngày 15-3, đã có 16 vụ tấn công được xác nhận nhằm vào các tàu trong và xung quanh vịnh Persic, làm gián đoạn dòng chảy dầu. Ba là, các cuộc tấn công của Iran đã khiến các nhà xuất khẩu dầu ở vùng Vịnh phải cắt giảm sản lượng dầu. Hôm 8-3, lần đầu tiên sau 4 năm, giá dầu tăng vọt lên hơn 100USD/thùng. Cả 3 tác động này đều ảnh hưởng trực tiếp đến Trung Quốc.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc của Trung Quốc vào dầu nhập khẩu không ảnh hưởng sâu sắc đến an ninh năng lượng của nước này, bởi trên thực tế, Bắc Kinh tự túc về nguồn cung năng lượng. Theo tờ Nhân dân Nhật báo, trong giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ tự túc năng lượng của Trung Quốc luôn ở mức trên 80%. Trong đó, than đá vẫn là thành phần chính trong ngành năng lượng của Trung Quốc khi chiếm khoảng 51,4% tổng lượng tiêu thụ năng lượng của nước này. Đáng chú ý, các nguồn năng lượng tái tạo hồi năm 2024 còn vượt qua dầu mỏ, trở thành nguồn cung năng lượng lớn thứ hai ở Trung Quốc.
Theo tính toán, 38% tổng lượng dầu tiêu thụ của Trung Quốc đến từ Trung Đông nhưng bản thân dầu mỏ chiếm chưa tới 20% tổng lượng tiêu thụ năng lượng của nước này. Trung Quốc còn sản xuất khoảng 30% lượng dầu thô tiêu thụ trong nước, 215 triệu tấn trong số 765 triệu tấn cần thiết vào năm 2025. Quan trọng hơn, nền kinh tế Trung Quốc đang nhanh chóng chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch và hướng tới các nguồn năng lượng tái tạo mới. Năm 2025, năng lượng tái tạo đã vượt qua dầu mỏ để trở thành nguồn năng lượng lớn thứ hai, chiếm hơn 20% tổng năng lượng tiêu thụ của Trung Quốc. Chưa kể, nền kinh tế Trung Quốc đang điện khí hóa nhanh chóng, bổ sung thêm nhiều nguồn năng lượng, gồm thủy điện, hạt nhân, mặt trời và gió. Nhờ chiến dịch điện khí hóa này, tình trạng bất ổn về năng lượng do nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc được giảm bớt đáng kể.
Song, vai trò của dầu mỏ trong nền kinh tế Trung Quốc vẫn không thể thay thế ngay cả khi nó không còn thiết yếu đối với an ninh năng lượng của nước này. Dù điện khí hóa phương tiện giao thông làm giảm sự phụ thuộc vào xăng nhưng Trung Quốc vẫn dựa vào dầu mỏ để cung cấp nhiên liệu cho máy bay phản lực, vận tải biển, nhiên liệu diesel cho xe tải hạng trung và hạng nặng. Và khi nhu cầu về hóa dầu của Trung Quốc tăng lên cùng với sự tiến bộ công nghệ, dầu mỏ vẫn sẽ là yếu tố đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong tương lai.
TRÍ VĂN (Theo War On The Rocks)