28/07/2026 - 09:01

AI và câu chuyện pháp lý

Trí tuệ nhân tạo (AI) hiện diện ngày càng sâu rộng trong mọi mặt của đời sống xã hội và công tác quản lý, điều hành ở mỗi quốc gia, như: trợ lý ảo, nhận diện khuôn mặt, sinh trắc học, xe tự hành, điều phối giao thông thông minh, sáng tạo nội dung, tự động hóa quy trình, phân tích dữ liệu lớn... Sự bùng nổ của AI đặt ra cho hệ thống pháp luật các nước thách thức chưa từng có tiền lệ trong quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hội...

Trước yêu cầu cấp bách, các quốc gia đã hành động. Tiên phong là Liên minh châu Âu đã ban hành Đạo luật Trí tuệ nhân tạo (AI Act). Việt Nam cũng trở thành quốc gia đi đầu ở khu vực Đông Nam Á ban hành khung pháp lý chuyên biệt về AI thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, chính thức có hiệu lực từ ngày 1-3-2026. Luật này đã xóa bỏ "vùng xám" pháp lý, tạo điều kiện để ứng dụng, phát triển AI an toàn trong khuôn khổ của pháp luật.

Nguyên tắc xuyên suốt Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, lấy con người làm trung tâm. Luật khẳng định AI phục vụ con người, không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người. Luật dành hẳn 1 chương để quy định về đạo đức và trách nhiệm trong hoạt động trí tuệ nhân tạo. Ngay sau đó, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia, đưa pháp luật tiếp cận thực tiễn, kịp thời giữ nhịp cân bằng giữa phát triển công nghệ với các vấn đề mang tính giá trị con người. Một điểm mang tính nhân văn của Luật Trí tuệ nhân tạo là bảo vệ nhóm người yếu thế trong kỷ nguyên AI. Theo đó, Luật cấm hành vi phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống AI nhằm mục đích lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật… để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác.

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 phân định rõ ranh giới trách nhiệm giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị AI, bao gồm nhà phát triển, nhà cung cấp, bên triển khai, người sử dụng, người bị ảnh hưởng. Điều này giúp cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống tư pháp có cơ sở pháp lý để xử lý khi xảy ra vi phạm, tranh chấp trong hoạt động AI. Thực tế trong thời gian qua, cơ quan chức năng đã xử phạt nhiều trường hợp sử dụng AI để tạo, phát tán thông tin giả và nhiều vi phạm khác liên quan đến AI.

Không co cụm ở thế "phòng thủ", Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 cho thấy tầm nhìn chiến lược của quốc gia trong việc quản trị AI, nhằm “bọc lót” và tạo thế chủ động pháp lý cho AI thực chiến trong môi trường nội địa và quốc tế. Bước đi mang tính đột phá trong tư duy lập pháp ở Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 là quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo. Quy định này cho phép các tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ các nguyên tắc và đáp ứng các điều kiện theo quy định. Kết quả thử nghiệm có kiểm soát là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét công nhận kết quả đánh giá sự phù hợp theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025; miễn, giảm hoặc điều chỉnh nghĩa vụ tuân thủ tương ứng của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025. Bên cạnh đó là các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực AI, phát triển hệ sinh thái, cụm liên kết, thị trường và nguồn nhân lực AI. Không gian hợp tác quốc tế trong lĩnh vực AI được xác lập tại Điều 32, nhằm mở đường cho Việt Nam hội nhập trong kỷ nguyên AI.

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 mở ra hành lang pháp lý vững chắc, làm bệ phóng cho sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của quốc gia. Việc sớm ban hành khung pháp lý điều chỉnh toàn diện về AI giúp nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam trong “kỷ nguyên công nghệ làm chủ mọi cuộc chơi”. Đồng thời, tạo môi trường đầu tư minh bạch cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào lĩnh vực công nghệ cao tại Việt Nam. Tầm nhìn chiến lược, đón đầu dòng chảy công nghệ sẽ giúp Việt Nam tận dụng tối đa lợi thế cạnh tranh, thu hút cơ hội hợp tác, tạo thế chủ động đưa đất nước phát triển nhanh, toàn diện, tự chủ trong kỷ nguyên mới.

NGỌC DUNG

Chia sẻ bài viết