19/09/2026 - 07:07

Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật: Đòn bẩy phát triển kinh tế bền vững tại TP Cần Thơ 

Tại TP Cần Thơ, sự phát triển của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo và các hoạt động dựa trên dữ liệu, công nghệ đòi hỏi pháp luật không chỉ đồng bộ mà còn có tính dự báo, linh hoạt và thích ứng với thực tiễn, đáp ứng Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30-4-2025 của Bộ Chính trị yêu cầu đổi mới xây dựng và thi hành pháp luật, coi thể chế là lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển.

Tại Trường Chính trị TP Cần Thơ, Thành ủy tổ chức Hội thảo khoa học cấp thành phố “Giải pháp hướng tới xây dựng TP Cần Thơ trở thành trung tâm động lực phát triển vùng, giai đoạn 2025-2030”.

Khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế bền vững

Thời gian qua, Thành ủy, HĐND, UBND TP Cần Thơ xem việc hoàn thiện cơ chế, chính sách là cơ sở để tháo gỡ điểm nghẽn về đầu tư, công nghệ, nguồn lực và môi trường kinh doanh; nâng cao hiệu quả thực thi chính sách từ thực tiễn.

Nổi bật, Cần Thơ từng bước chuyển chính sách hỗ trợ kinh tế từ phương thức truyền thống sang thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và các ngành có hàm lượng tri thức, công nghệ cao. Đến năm 2025, thành phố có 113 tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ (KHCN) với khoảng 7.000 nhân lực, trong đó hơn 1.200 tiến sĩ và gần 3.000 thạc sĩ. Đây là nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu kinh tế số đạt tối thiểu 30% GRDP vào năm 2030.

Điển hình, Nghị quyết số 16/2025/NQ-HĐND ngày 10-12-2025 quy định chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ đến năm 2030, từ mức hỗ trợ, thương mại hóa kết quả đến quản trị rủi ro, giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức KHCN tiếp cận, làm chủ công nghệ mới, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh; Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND ngày 29-4-2026 quy định hỗ trợ các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm; chip bán dẫn; trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo, qua đó tạo cơ sở thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ chiến lược của thành phố.

Thành phố cũng tiếp tục hỗ trợ các lĩnh vực quan trọng của cơ cấu kinh tế. Trong nông nghiệp, chính sách tập trung khôi phục sản xuất, khuyến nông, phát triển giống và tín dụng đầu tư; trong công nghiệp, hỗ trợ phát triển sản xuất và nâng cao năng lực cơ sở công nghiệp. Đối với kinh tế tập thể, Nghị quyết số 22/2026/NQ-HĐND ngày 30-6-2026 quy định hỗ trợ tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, góp phần củng cố liên kết, nâng cao hiệu quả, quy mô và khả năng tham gia thị trường.

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp từng bước mở rộng từ vốn, công nghệ sang hỗ trợ tiếp cận và tuân thủ pháp luật. Kế hoạch số 49/KH-UBND ngày 30-1-2026 tập trung cung cấp thông tin, bồi dưỡng và tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần phòng ngừa rủi ro, tranh chấp và nâng cao năng lực tuân thủ. Đồng thời, thành phố triển khai hỗ trợ pháp lý liên ngành giai đoạn 2026-2030, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hộ kinh doanh tiếp cận pháp luật và hoạt động thuận lợi hơn.

Nhận diện và giải quyết điểm nghẽn

Thách thức trong phát triển kinh tế thành phố bao gồm nguồn lực và năng lực thực hiện hạn chế. KHCN, đổi mới sáng tạo cùng chuyển đổi số chưa tác động mạnh mẽ đến sản xuất. Thể chế cho mô hình kinh tế mới, cơ chế sandbox và quy định chuyển giao công nghệ còn thiếu rõ ràng, cản trở thương mại hóa. Ngoài ra, đầu tư, logistics, chế biến chế tạo chưa phát triển hết tiềm năng; việc tiếp cận pháp luật của doanh nghiệp và tính thống nhất thể chế sau sáp nhập hành chính vẫn cần hoàn thiện.

Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo đòn bẩy phát triển kinh tế bền vững tại TP Cần Thơ.

Một là, tiếp tục rà soát, đồng bộ và chủ động hoàn thiện chính sách. Thực hiện hiệu quả Kết luận số 18-KL/TW ngày 2-4-2026 và Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16-4-2026 theo hướng rõ trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn; chuyển từ “gỡ vướng” sang chủ động thiết kế chính sách, tạo môi trường pháp lý minh bạch, linh hoạt cho các động lực tăng trưởng mới.

Hai là, hoàn thiện thể chế đô thị thông minh theo Nghị định số 269/2025/NĐ-CP và Thông tư số 03/2026/TT-BXD. Ưu tiên hạ tầng dữ liệu (GIS, AI) và triển khai sandbox trong nông nghiệp công nghệ cao, logistics, du lịch, thương mại số.

Ba là, lấy doanh nghiệp và thương mại hóa làm trọng tâm của chính sách KHCN và đổi mới sáng tạo. Chuyển từ hỗ trợ nghiên cứu đơn thuần sang gắn nghiên cứu với nhu cầu doanh nghiệp và thị trường; hỗ trợ toàn chuỗi từ sở hữu trí tuệ đến thương mại hóa, phấn đấu trên 40% doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và tối thiểu 30% kết quả nghiên cứu được ứng dụng, thương mại hóa theo Kế hoạch số 332/KH-UBND.

Bốn là, nâng cao khả năng tiếp cận và hiệu quả thực thi chính sách. Đơn giản hóa thủ tục, số hóa quy trình tiếp cận chính sách và đối thoại với doanh nghiệp. Đánh giá bằng bộ chỉ số thụ hưởng, chi phí tuân thủ để pháp luật thực sự tạo hiệu quả phát triển.

Tóm lại, hoàn thiện pháp luật là một trong các điều kiện điều kiện then chốt vì khi pháp luật sát thực tiễn, thi hành hiệu quả và kịp thời thích ứng sẽ trở thành đòn bẩy nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực phát triển bền vững cho thành phố.

ThS. Nguyễn Thị Nụ - ThS. Nguyễn Thị Kim Nhung

Chia sẻ bài viết