13/11/2010 - 10:15

Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2010)

Sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

(Tiếp theo)

Ngày 1-9-1939 chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, thực dân Pháp đầu hàng và thỏa hiệp với phát xít Nhật thẳng tay đàn áp phong trào dân chủ chống chiến tranh của nhân dân ta. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 đã chỉ rõ bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn con đường nào khác hơn con đường đánh đổ đế quốc Pháp; chống tất cả các ách ngoại xâm tiến lên giải phóng dân tộc và nhấn mạnh nhiệm vụ chấn chỉnh các tổ chức quần chúng và chuyển hoạt động của Mặt trận dân chủ thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống chiến tranh. Tháng 11-1940 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương chủ trương thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế, nhằm tập hợp hết thảy những lực lượng phản đế, phản phong kiến ở Đông Dương đánh đổ đế quốc Pháp - Nhật và bè lũ tay sai phản lại quyền lợi dân tộc. Nhờ những chủ trương đúng đắn đó, các tổ chức phản đế nhanh chóng được phát triển, Mặt trận được mở rộng trong các tầng lớp nhân dân.

Năm 1941 tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước để trực tiếp cùng Trung ương lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám để xem xét các chủ trương, chính sách của Đảng. Hội nghị nhận định: Cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc giải phóng, trước mắt tạm gác khẩu hiệu cách mạng thổ địa để lôi kéo địa chủ tiến bộ, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp, Nhật nhằm giải quyết nhiệm vụ sống còn của dân tộc lúc này là giải phóng dân tộc. “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không thực hiện được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.4

Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh bao gồm các hội cứu quốc của các tầng lớp nhân dân. Hội nghị vạch rõ chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm. Hội nghị Trung ương cũng quyết định lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Việt Minh và làm cờ Tổ quốc khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; quy định những nguyên tắc về tuyên truyền, tổ chức, khẩu hiệu và phương thức đấu tranh,... Nhờ có chính sách đúng của Đảng, phong trào Việt Minh đã phát triển nhanh chóng và lan tỏa khắp nước. Cao Bằng trở thành trung tâm của phong trào cứu quốc của cả nước. Tháng 10-1941 Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Đây là lần đầu tiên một Mặt trận dân tộc thống nhất trình bày rõ ràng đường lối, chính sách, phương pháp tiến hành và tổ chức lực lượng đấu tranh để thực hiện mục đích cứu nước của mình. Ngày 7-5-1944 Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị về sửa soạn khởi nghĩa. Tháng 10-1944 Bác Hồ có thư kêu gọi đồng bào ra sức chuẩn bị để họp Toàn quốc đại hội, đại biểu cho tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể trong nước để bầu cử ra “Một cơ cấu đủ lực lượng và uy tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”.

Ngày 22-12-1944 Bác Hồ ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 9-3-1945 Nhật lật đổ Pháp, độc chiếm Đông Dương. Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thực hiện chỉ thị đó, một cao trào cách mạng đã xuất hiện ở nhiều nơi; khu giải phóng Việt Bắc gồm 6 tỉnh được thành lập. Tình hình chuyển biến mau lẹ, phát xít Đức đầu hàng Liên Xô và các nước Đồng Minh. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào dũng cảm tiến lên dưới ngọn cờ của Việt Minh hãy “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Đại hội quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập họp ở Tân Trào trong 2 ngày 16 và 17-8-1945 đã nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa do Đảng Cộng sản kiến nghị, thông qua Lệnh khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh quyết định Quốc kỳ, Quốc ca. “Đại hội đã cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, sau này trở thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”5 do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chỉ trong vòng 2 tuần lễ chính quyền địch hoàn toàn sụp đổ, Ủy ban nhân dân lâm thời được thành lập khắp các địa phương trong cả nước. Ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

B. Thời kỳ bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám, tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946 -1975).

1. Mặt trận Việt Minh tăng cường đoàn kết toàn dân góp phần bảo vệ và giữ vững chính quyền cách mạng.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng đứng trước tình thế vô cùng hiểm nghèo, nạn đói đe dọa sinh mệnh hàng triệu người. Thực dân Pháp núp dưới bóng quân Đồng Minh vào nước ta (với danh nghĩa tước vũ khí quân đội Nhật) đã nổ súng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam từ ngày 23-9-1945. Ở Phía Bắc 18 vạn quân Quốc dân Đảng Trung Hoa đem theo bọn phản cách mạng Việt Nam thực hiện âm mưu “diệt Cộng cầm Hồ” nhằm “tiêu diệt Đảng ta”, “phá tan Việt Minh”. Để bảo vệ chính quyền cách mạng, làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù và tay sai, nhiệm vụ củng cố và phát triển Việt Minh được đề ra cụ thể. Đó là việc phát triển các tổ chức cứu quốc thống nhất trong cả nước. Đảng ta chuyển vào hoạt động bí mật. Từ đó vai trò của Việt Minh trong đời sống chính trị của đất nước ngày càng được đề cao, ngày càng thu nhận thêm những thành viên mới, góp phần ngăn chặn và phân hóa hàng ngũ các đảng phái chính trị phản động bám gót quân Tưởng đồng thời tuyên truyền vận động nhân dân tham gia các phong trào sản xuất cứu đói, tuần lễ vàng, hũ gạo tiết kiệm v.v... Nhờ những hoạt động có hiệu quả của Việt Minh, khối đại đoàn kết toàn dân thực sự trở thành hậu thuẫn vững chắc chống thù trong giặc ngoài, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh nguy hiểm, bảo vệ được chính quyền, chủ động chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Đánh giá công lao to lớn của Việt Minh, Tuyên ngôn của Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt tháng 3-1951 nêu rõ: “Việt Minh có công lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chống quân cướp nước. Công đức ấy tất cả mọi người Việt Nam phải ghi nhớ. Lịch sử của Việt Minh 10 năm đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc cũng là những trang lịch sử vẻ vang vào bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta”.

2. Mặt trận thống nhất Việt Minh - Liên Việt (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt) đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.

Để đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng và sự phát triển của Mặt trận dân tộc thống nhất, Bác Hồ và Trung ương Đảng chủ trương vận động thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt). Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 29-5-1946 Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam tuyên bố thành lập. Cương lĩnh của Hội chỉ rõ: “Mục đích đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và đồng bào yêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập - thống nhất - dân chủ - phú cường”. Việc thành lập Hội Liên Việt là bước phát triển mới của Mặt trận dân tộc thống nhất.

Từ giữa năm 1946, đất nước đứng trước tình thế vô vàn khó khăn. Để tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập. Thực hiện lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt đã ra sức tuyên truyền vận động nhân dân tham gia kháng chiến. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt ngày càng sát cánh bên nhau, đẩy mạnh mọi hoạt động, xây dựng tổ chức, phát triển lực lượng nhằm mục tiêu chung là kháng chiến thắng lợi, giành độc lập dân tộc. Việc thống nhất Việt Minh và Liên Việt trở thành yêu cầu khách quan của kháng chiến và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta nhằm củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

Ngày 3-3-1951, Đại hội toàn quốc Mặt trận thống nhất Việt Minh - Liên Việt lấy tên là Mặt trận liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt) được tiến hành. Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Đương (5-1951), tuyên bố ra công khai với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam và lãnh đạo Mặt trận dân tộc thống nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Liên Việt đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình: tăng cường đại đoàn kết toàn dân, vận động các giới đồng bào chấp hành tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước, đập tan mọi hoạt động tàn bạo và âm mưu thâm độc của kẻ thù, vận động nhân dân thực hiện giảm tô, giảm tức, và cải cách ruộng đất nhằm động viên khí thế cách mạng của nông dân, tăng cường liên minh công nông, góp phần củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất. Quá trình kháng chiến toàn dân, toàn diện làm cho Mặt trận dân tộc thống nhất không ngừng lớn mạnh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Qua 9 năm kháng chiến, Mặt trận Liên Việt trở thành “... Một trong những trụ cột của Nhà nước dân chủ nhân dân, là sức mạnh vô biên của cuộc kháng chiến, kiến quốc; là cơ sở quần chúng rộng rãi làm thành một áo giáp vững bền của Đảng để đánh thắng bọn xâm lược và tay sai của chúng” 6

(Còn tiếp)

BAN TUYÊN GIÁO T.Ư PHỐI HỢP ỦY BAN
T.Ư MTTQ VIỆT NAM BIÊN SOẠN

------------------------------

4 Văn kiện Đảng 1930 - 1945 (sách đã dẫn) tập III. Tr.196

5 Hồ Chí Minh – Những sự kiện. NXB TTLL, Hà Nội 1987 Tr.85

6 Văn kiện Đảng về Mặt trận dân tộc thống nhất Tr.198 (sách đã dẫn)

Chia sẻ bài viết