13/05/2026 - 09:54

Nghĩa tình làng nghề 

Làng nghề đan cần xé ở khu vực 6, phường Ngã Bảy, TP Cần Thơ, nhộn nhịp nhất những năm 1960 đến cuối những năm 1990, gắn với thời kỳ phát triển sôi động của các chợ nổi: Cái Răng, Ngã Bảy hay Phụng Hiệp, Ngã Năm... Đến nay, dù qua thời cực thịnh, nhiều gia đình ở làng nghề vẫn “sống khỏe” nhờ người dân biết giữ nghề cha truyền con nối và thích nghi bằng cách làm mới dựa trên tình làng nghĩa xóm đậm chất miền Tây.

Trang trí quai cầm cần xé tại nhà chị Lê Thị Anh Thư ở khu vực 6, phường Ngã Bảy, TP Cần Thơ. Ảnh: QUỐC HÙNG

Bây giờ, bà con không còn mạnh ai nấy làm mà liên kết nhau theo cách tổ chức mỗi gia đình một khâu. Cách làm này giúp tiết kiệm thời gian, tăng năng suất, đảm bảo đầu ra. Hơn hết, sự gắn kết ấy giữ được tình làng nghĩa xóm, điều vô cùng quý giá của những làng nghề truyền thống miền Tây.

Bà Trần Thị Mai (78 tuổi) là chứng nhân của quá trình phát triển ở làng nghề này. Bà kể: “Hồi xưa, nhà nhà, người người, đến mấy trăm hộ theo nghề. Mỗi ngày một người đan giỏi được 4 đến 5 cái. Nếu nhà đông người thì số lượng nhiều hơn. Nhiều gia đình nhờ nghề đan cần xé đã làm giàu, mua đất cất nhà và lo cho cái ăn học”. 

Ngày nay, xuất hiện nhiều vật dụng đa dạng chất liệu thay thế cần xé; nhưng nhờ những ưu thế riêng về kiểu dáng, sự thuận lợi khi di chuyển, chất liệu nhẹ nhàng... mà cần xé vẫn được sử dụng phổ biến để chứa đựng, vận chuyển đặc sản miền Tây, nhất là các loại trái cây. Thế nhưng, để “sống khỏe” với nghề, người làng nghề đang vận hành theo một cách mới. Bà con liên kết nhau theo kiểu mỗi gia đình một khâu: nhà chẻ tre, nhà vót nan, vót ghim, nhà chuyên đan, nhà lo hoàn thiện sản phẩm, nhà đứng ra làm đầu mối cho đầu vào và đầu ra... Trong cuộc mưu sinh hôm nay, mỗi sản phẩm được thành hình là sự góp sức của nhiều mảnh ghép, từ đôi tay khéo léo của người chẻ nan, người đan mê, vô vành, buộc quai... cho đến kinh nghiệm được truyền lại qua nhiều thế hệ. Chất lượng sản phẩm là yếu tố sống còn, là miếng cơm manh áo của các gia đình và cả làng nghề nên ai cũng cố gắng tạo nên sản phẩm bền, đẹp nhất.

Một trong những người đứng ra làm đầu mối mua nguyên liệu và tổ chức gia công là chị Nguyễn Thị Nhung (Út Nhung). Nhờ có vốn và đầu ra ổn định cho sản phẩm, hiện nay, chị góp phần tạo việc làm ổn định cho vài chục lao động địa phương. Chị Út Nhung bộc bạch: “Bà con trước giờ làm nghề này nên ai cũng có năng lực riêng. Tôi đứng ra làm đầu mối, rồi tổ chức người làm theo từng công đoạn, sau đó ráp lại cho nhanh. Cứ 2-3 tuần, khi nào đủ số lượng thì liên hệ thương lái đến giao hàng. Đến giờ còn sống được với nghề, hy vọng đầu ra có hoài để bà con có thu nhập”.

Ở làng nghề này có bà Thạch Thị Thủy, con gái của bà Trần Thị Mai, nối nghiệp gia đình. Vợ chồng bà Thủy phụ trách công đoạn vót ghim đế, là một khâu không thể thiếu để đảm bảo cần xé được chắc chắn, bền chặt hơn; cũng là khâu hoàn thiện sản phẩm. Mỗi ngày, vợ chồng bà Trần Thị Mai thu nhập được vài trăm ngàn đồng từ số ghim vót được. Với bà Thạch Thị Thủy, đây là nghề vẫn tạo cuộc sống ổn định nếu mỗi người biết chịu khó, nhẫn nại và gìn giữ nghề đúng cách. Bà chia sẻ: “Cái nghề như thấm sẵn trong người, nên dù có đi đâu làm gì thì khi về nhà cũng có thể bắt tay vào vót ghim hoặc đan cần xé được. Mỗi ngày, cứ làm tới chiều là có thu nhập”.

Còn với chị Lê Thị Anh Thư - người nhận khâu trang trí, làm quai - thì nghề đan cần xé hiện tại cũng dễ kiếm sống, nên chị chọn ở lại với nghề. Công việc tại chỗ nên chị có thời gian lo cho con cái, nên chị càng trân trọng và tận tâm. Khâu mà chị đảm nhận không quá nặng nhọc nhưng cần sức bền, sự tỉ mỉ, khéo léo. Chị chia sẻ: “Cần xé có đầu ra ổn định, nên người dân làng nghề có việc làm ổn định”.

Theo thống kê, các đầu mối ở làng nghề giao đi khoảng gần 2.000 cần xé mỗi tháng, mỗi người thợ làng nghề hoặc gia đình có thu nhập từ 200.000-500.000 đồng/ngày, tùy số lượng sản phẩm. Ở xóm này, người dân thường ngồi quây quần làm việc ở khoảng sân trước nhà, ở hàng ba, mái hiên, dưới bóng cây cặp mé sông… và tiếng trò chuyện rôm rả làm rộn ràng cả một góc quê. Cách làm “đồ món” tưởng như rời rạc, nhưng ngược lại, bà con làng nghề càng gắn bó. Bởi ai cũng hiểu, mỗi chiếc nan dù mỏng manh, mỗi chiếc quai cầm dù nhỏ bé cũng đều có giá trị đặc biệt quan trọng. Chúng phải thật vừa khít, đồng đều, như tình làng nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau. Chính những điều bình dị ấy đã giữ cho nghề đan cần xé không chỉ tồn tại như một kế sinh nhai mà còn như một phần ký ức văn hóa đậm sâu của sông nước miền Tây.

NGỌC NHƯ

Chia sẻ bài viết