Đình Bình Thủy nằm bên bờ Nam sông Hậu, thuộc phường Bình Thủy, TP Cần Thơ. Trải qua hơn một thế kỷ tồn tại, ngôi đình vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Bình Thủy - Long Tuyền.
Từ những xóm ấp đầu tiên đến làng Bình Thủy - Long Tuyền
Vùng Bình Thủy - Long Tuyền trước kia thuộc phủ Trấn Giang. Từ vùng đất hoang sơ, dân cư thưa thớt, theo quá trình khai phá và định cư, 6 ấp trại đầu tiên của vùng đất này hình thành, gồm Hưng Hòa, Phó Hòa, Khánh Lộc, Bình Khánh, Thạnh Bình và Thới Hòa. Trong quá trình phát triển, 6 ấp trại thường xuyên giao lưu, trao đổi kinh tế, tiếng nói, phong tục, tập quán, lễ nghi và văn hóa, từng bước tạo nên cộng đồng cư dân ổn định trên vùng đất mới.

Nét đẹp Di tích quốc gia Đình Bình Thủy. Ảnh: DUY KHÔI
Năm Đinh Sửu (1817), ông Lê Thành Hiếu, người Định Tường, đưa gia đình đến cư trú tại ấp Hưng Hòa, cùng ông Nguyễn Văn Minh khai phá đất đai, mở mang đường sá, phát triển ruộng vườn, tổ chức sản xuất. Sau thời gian làm ăn phát triển, hai ông tiếp tục khai khẩn thêm vùng đất Phó Hòa. Từ quá trình hình thành và phát triển của hai khu vực cư trú này, Hưng Hòa và Phó Hòa được hợp nhất thành làng Hưng Phó Xã.
Cũng trong năm 1817, ông Võ Văn Tựu, người Định Tường, đến khai khẩn vùng đất thuộc ấp Thạnh Bình. Sau một thời gian tổ chức sản xuất và ổn định đời sống, khu vực này phát triển thành làng Bình Hòa Xã. Đến năm Giáp Thìn (1844), hai làng Hưng Phó Xã và Bình Hòa Xã cùng với các ấp trại Khánh Lộc, Thới Hòa được hợp nhất thành làng Bình Hưng. Đây là bước phát triển quan trọng trong quá trình tổ chức cộng đồng cư dân tại vùng đất Bình Thủy. Làng Bình Hưng có địa bộ, có tổ chức quản lý, các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo dần được hình thành, tạo nền tảng cho sự phát triển của vùng đất về sau.
Cũng trong năm 1844, vùng đất này xảy ra một trận bão lớn. Trong hoàn cảnh đó, dân làng dựng một ngôi đình bằng gỗ, lợp lá tại vàm rạch Bình Thủy để thờ thần, cầu mong sự che chở, phù hộ xóm làng được bình an, làm ăn thuận lợi. Đây được xem là ngôi đình đầu tiên, đặt nền móng cho đình Bình Thủy sau này.
Tương truyền, năm 1852, dưới triều vua Tự Đức năm thứ năm, quan Khâm sai đại thần Huỳnh Mẫn Đạt trên đường tuần du qua sông Hậu đã trú tại khu vực cù lao gần ngã ba một dòng kinh đổ ra sông Hậu, nay thuộc khu vực cồn tại vàm rạch Bình Thủy. Ông nhận thấy nơi đây có dòng nước chảy êm đềm, cảnh vật tươi đẹp, hoa màu xanh tốt, dân chúng an cư lạc nghiệp, nên đặt tên vùng đất là Bình Thủy và dâng sớ trình bày sự việc lên vua Tự Đức. Nhà vua thuận tình ban sắc phong “Bổn Cảnh Thành Hoàng” cho làng Bình Thủy vào ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý (1852). Khi được ban sắc thần, dân làng đóng góp công sức, của cải xây dựng lại đình lần thứ hai với quy mô lớn hơn, mái được lợp ngói.
Trải qua thời gian, ngôi đình dần xuống cấp. Năm 1904, đình được dời đến khu vực Ngã Tư Bé, trên phần đất của làng rộng 2,9ha. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, công việc bị đình trệ. Đến năm 1909, đình được xây dựng lại tại vị trí cũ ở vàm rạch Bình Thủy. Công trình khởi công ngày 12 tháng 7 năm 1909 và hoàn thành vào năm 1910. Ngôi đình được xây dựng trong giai đoạn này về cơ bản tồn tại đến ngày nay.
Cũng trong thời gian này, tên gọi Long Tuyền gắn với vùng đất Bình Thủy. Năm Mậu Thân (1908), làng Bình Thủy được đổi tên thành làng Long Tuyền. Theo cách giải thích dân gian, dòng sông Bình Thủy uốn lượn qua làng được hình dung như hình dáng một con rồng; cồn phía trước vàm như viên châu; các con rạch Ngã Tư Lớn, Ngã Tư Bé, Miễu Ông và Cái Tắc được xem như những chi rồng; các nhánh rạch nhỏ tỏa ra hai bên như móng rồng. Đình Bình Thủy và chùa Nam Nhã được ví như đôi mắt rồng.
Từ đó, làng Bình Thủy được đổi tên thành Long Tuyền, nghĩa là “suối rồng” hay “rồng nước”. Ngôi đình thần Bình Thủy cũng được gọi là đình thần Long Tuyền hay Long Tuyền cổ miếu. Tuy nhiên, tên gọi đình Bình Thủy vẫn được người dân sử dụng phổ biến cho đến ngày nay.
Công trình kiến trúc cổ và ký ức cộng đồng
Đình Bình Thủy được xây dựng theo dạng chữ Nhất, hướng Đông - Tây. Bên ngoài đình là cổng tam quan lớn, được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống. Cả cổng chính và hai cổng phụ đều có mái che. Trên sóng mái cổng chính là hình tượng đôi rồng tranh lấy quả châu. Dưới mái cổng có bốn chữ “Long Tuyền cổ miếu”, ghi dấu tên gọi gắn với vùng đất này.
Bước qua cổng tam quan là khuôn viên đình rộng rãi, thoáng đãng. Bên phải là khoảng sân lớn, nơi tổ chức các hoạt động trong dịp lễ hội như hát bội, hội chợ bánh dân gian và các sinh hoạt cộng đồng. Toàn bộ khu vực đình được bao quanh bởi hệ thống tường xây kiên cố, bên trong có nhiều cây xanh, hoa kiểng.
Phía sau dãy hàng rào bên trái là bức bình phong bằng đá cao, lớn. Mặt trước bức bình phong trang trí hình rồng vờn trong mây, phía dưới là hình ảnh đàn cá đang bơi; mặt sau là hình long mã và chậu hoa cúc. Hai bên cổng ra vào là miếu Đông Lang và Tây Lang. Bên trong hai miếu đặt bài vị với chữ “Thần”. Sau hai ngôi miếu là khoảng sân rộng dẫn vào khu vực chính của đình.
Bên hông trái của đình là miếu thờ Sơn Quân, bên phải là miếu thờ Thần Nông. Kế bên miếu Thần Nông là dãy nhà của lục ấp, gồm sáu ấp của làng Bình Thủy xưa: Bình Nhựt, Bình Lạc, Bình Thường, Bình Dương, Bình Phó và Bình Yên. Đây là nơi các ấp tổ chức cúng tế cầu bình an cho cộng đồng của mình mỗi dịp lễ Kỳ Yên tại đình.
Mái đình được lợp bằng ngói âm dương. Trên bờ nóc là hình tượng đôi rồng uốn lượn tranh lấy quả châu. Quanh các gác mái là hình tượng các vị thần tiên, kỳ lân, các vật linh và hoa lá với nhiều màu sắc sinh động. Những chi tiết trang trí này tạo nên vẻ đẹp đặc sắc của công trình kiến trúc.
Không gian bên trong đình cao ráo, thoáng mát với sáu hàng cột tròn lớn, chân cột hơi choãi ra giúp công trình thêm phần vững chắc. Các bộ vì kèo được kết cấu chặt chẽ, phân chia mái đình thành năm phần liên tiếp theo lối thượng lầu, hạ hiên, tương ứng với năm gian điện thờ bên dưới và hai dãy hành lang nội bộ hai bên.
Trên các thanh xà ngang dưới mái đình là những bao lam, hoành phi, liễn đối trải dài từ tiền đình đến hậu đình. Các hoa văn được chạm khắc tinh tế, những đường nét trang trí phủ nhũ vàng nổi bật trên nền gỗ sẫm hoặc nền sơn son đỏ thẫm. Những mảng chạm hoa mẫu đơn mềm mại, những đôi rồng uốn lượn ôm lấy thân cột cùng các đề tài linh vật, hoa lá tạo nên vẻ đẹp vừa công phu vừa trang nghiêm cho ngôi đình.
Trung tâm thờ tự của đình là Bổn Cảnh Thành Hoàng, vị thần được dân làng tôn kính và thờ phụng sau khi được ban sắc phong vào năm 1852. Đình còn có các bàn thờ những danh nhân được cộng đồng kính trọng như Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Trung Trực, Đinh Công Chánh... Hệ thống thờ tự tại đình Bình Thủy thể hiện sự gắn bó giữa tín ngưỡng thờ Thành Hoàng với việc tưởng nhớ những người có công khai phá, xây dựng và chăm lo cộng đồng. Qua không gian thờ tự của đình, ký ức về những thế hệ đi trước được lưu giữ và trao truyền qua nhiều đời.
Ngày 5-9-1989, đình Bình Thủy được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Hằng năm, đình có hai kỳ lễ lớn là Kỳ yên Thượng điền tổ chức ngày 12, 13 và 14 tháng 4 âm lịch; lễ Hạ điền ngày 14, 15 tháng Chạp. Lễ hội Kỳ yên đình Bình Thủy được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018. Ngày nay, đình Bình Thủy vẫn hiện diện như một dấu tích của quá trình hình thành cộng đồng cư dân nơi đây. Qua cánh cổng mang dòng chữ “Long Tuyền cổ miếu”, những mái ngói âm dương, hàng cột lớn, hoành phi, liễn đối cùng không gian thờ tự gợi nhớ về một ngôi đình đã gắn bó với bao thế hệ cư dân.
Trần Phỏng Diều
Tài liệu tham khảo
1. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ - Ban quản lý di tích thành phố (2019), “Di tích lịch sử - văn hóa thành phố Cần Thơ.”
2. Nguyễn Sương (2011), “Chuyện làng cổ - Bình Thủy Long Tuyền”, NXB Đại học Cần Thơ.
3. Phạm Văn Thúy (2003), “Làng Long Tuyền Cần Thơ”, Báo Văn nghệ số 25, ngày 21.6.