MAI QUYÊN
Theo trang tin Nikkei, nhiều nhà thầu quốc phòng lớn trên thế giới đang chuyển trọng tâm hoạt động khu vực châu Á sang Nhật Bản trong bối cảnh Tokyo chuẩn bị tăng chi tiêu quốc phòng trước tình hình an ninh Ðông Á xấu đi.

Chiến đấu cơ tàng hình F-35 lắp ráp tại Nhật Bản. Ảnh: Nikkei
Năm ngoái, công ty vũ khí và hàng không vũ trụ Anh, BAE Systems lập công ty con tại Nhật Bản. Ðến cuối năm nay, hãng hoàn tất chuyển chức năng giám sát các hoạt động châu Á từ cơ quan ở Malaysia sang Nhật Bản. Ðể củng cố nền tảng kinh doanh, BAE Systems sẽ tăng số lượng nhân viên tại Nhật Bản; bổ nhiệm giám đốc điều hành mới giám sát chiến lược kinh doanh của hãng trên toàn châu Á. Ðược biết, “ông trùm” sản xuất vũ khí của Anh hiện đóng vai trò cốt lõi trong Chương trình Không quân Chiến đấu Toàn cầu hợp tác giữa Anh - Nhật - Ý để phát triển máy bay chiến đấu thế hệ tiếp theo. Với chiến lược kinh doanh mới, BAE Systems dự kiến tăng cường hợp tác với Tập đoàn Công nghiệp nặng Mitsubishi của Nhật Bản và những công ty khác tham gia dự án 3 bên.
Chung tầm nhìn, nhà thầu quốc phòng Lockheed Martin đã hoàn tất chuyển trụ sở chiến lược ở khu vực châu Á từ Singapore sang Nhật Bản. Trước đây, cơ quan này chủ yếu giám sát tình trạng bất ổn ở một số nước Ðông Nam Á. Hiện tại, từ trụ sở ở Nhật Bản, công ty hàng không vũ trụ và quốc phòng Mỹ sẽ mở rộng kiểm soát hoạt động tại Hàn Quốc, Ðài Loan và nhiều thị trường khác. Ðộng thái này được thực hiện trong bối cảnh căng thẳng ở Ðông Á leo thang, bao gồm các vụ phóng tên lửa liên tiếp của CHDCND Triều Tiên và nguy cơ xung đột ở Ðài Loan.
Vốn quan hệ giữa Nhật Bản với các nhà thầu quốc phòng lớn nói trên đã có từ trước. Chỉ là từ năm ngoái, Tokyo trở nên thu hút hơn sau khi công bố Chiến lược an ninh quốc gia sửa đổi, tăng gấp đôi chi tiêu quốc phòng. Trong 30 năm qua, Nhật Bản duy trì ngân sách quốc phòng khoảng 1% tổng sản phẩm nội địa (GDP) - thấp hơn mức 2% của Tổ chức Hiệp ước Bắc Ðại Tây Dương (NATO) và các đối tác trong khu vực như Hàn Quốc, Ấn Ðộ vốn chi trung bình 2,5% GDP trong cùng thời kỳ. Trong bối cảnh thách thức an ninh khu vực Ấn Ðộ Dương - Thái Bình Dương gia tăng, Tokyo năm ngoái công bố 3 văn kiện quan trọng về quốc phòng và lộ trình nâng tổng chi tiêu quân sự năm tài chính 2023-2027 lên 294 tỉ USD - tăng 1,5 lần so với kế hoạch 5 năm trước đây bắt đầu từ năm tài chính 2019.
Theo các nhà phân tích, lộ trình trên đang được Nhật Bản triển khai, dựa vào chi tiêu quốc phòng năm tài khóa 2023 tăng lên 46 tỉ USD từ mức 36,8 tỉ USD của năm 2022. Chính phủ Nhật Bản tuần rồi cũng trình bày quan điểm nới lỏng hướng dẫn hoạt động của các nguyên tắc chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng, cho phép xuất khẩu thiết bị phòng thủ được phát triển chung sang các nước thứ 3.
Tất cả diễn biến trên được coi là bước ngoặt đối với Nhật Bản kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2, tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các công ty nước ngoài tham gia phát triển và sản xuất mặt hàng quân sự. Không bỏ lỡ, công ty quốc phòng lớn thứ 6 của Mỹ L3Harris Technologies lập chi nhánh tại Nhật Bản từ giữa năm 2022. Là đối tác của Mitsubishi, Tập đoàn Công nghệ quốc phòng Pháp Thales có kế hoạch tăng cường quan hệ hiện có và tạo thêm việc làm cho người lao động ở Nhật Bản. Từ tháng 3, nhà thầu quốc phòng Thổ Nhĩ Kỳ STM bắt đầu tiếp cận Tokyo bằng các mẫu máy bay không người lái cảm tử đang “làm mưa làm gió” trên thị trường châu Á.
Ở Nhật Bản hiện có khoảng 1.100 công ty tham gia sản xuất máy bay chiến đấu, 1.300 công ty sản xuất xe tăng và 8.300 công ty sản xuất tàu hộ tống hải quân. Với mạng lưới như trên, chính sách tăng cường năng lực quân sự của chính phủ được kỳ vọng giúp nâng cao trình độ các nhà thầu quốc phòng trong nước. Trong khi đó, các nhà cung cấp linh kiện mong đợi mở rộng thị phần thông qua nỗ lực của Tokyo nhằm kết nối tập đoàn quốc phòng nước ngoài lớn với các công ty vừa và nhỏ trong nước cũng như nhóm khởi nghiệp.
Thách thức hiện nay là việc liệu Nhật Bản có thể củng cố nền tảng ngành công nghiệp vũ khí trong nước thông qua hợp tác công - tư hay không. Bởi theo Nikkei, sản xuất thiết bị quốc phòng hiện nay ở nhiều công ty địa phương hầu như không thể hòa vốn. Nếu làn sóng nước ngoài thâm nhập, lợi nhuận các công ty Nhật Bản có thể giảm hơn nữa thậm chí rút lui.