Các nhà hoạt động và luật sư ở châu Phi đang kêu gọi hành động khẩn cấp để bảo vệ phụ nữ cùng trẻ em trước tình trạng bạo lực kỹ thuật số gia tăng trên khắp lục địa.

Người dùng công nghệ kỹ thuật số đang tăng trưởng theo cấp số nhân trên khắp châu Phi, kéo theo đó là những mối đe dọa trực tuyến mới. Ảnh: Guardian
Theo nghiên cứu thực hiện trên 5 quốc gia ở khu vực cận Sahara, có 28% phụ nữ từng trải qua bạo lực trực tuyến. Con số này dự kiến tăng lên khi khả năng tiếp cận Internet của khu vực đang mở rộng theo cấp số nhân, cung cấp cho thủ phạm những công cụ mới để kiểm soát và bịt miệng phụ nữ và trẻ em gái; cũng như gây ảnh hưởng đến trẻ em trai.
Trong nghiên cứu do Trung tâm phục hồi thông tin (CIR) thực hiện tại Ethiopia suốt 4 năm qua, lạm dụng giới tính phổ biến đến mức trở nên bình thường trên mạng. Trả lời phỏng vấn, một phụ nữ Ethiopia cho biết “không nền tảng nào mang lại cảm giác an toàn”. Còn tại Uganda, kết quả khảo sát quốc gia về bạo lực năm 2021 cho thấy có tới 49% phụ nữ từng bị quấy rối trực tuyến. Ở Nam Phi, nghiên cứu sắp công bố của tổ chức phi lợi nhuận quốc tế Equimundo và Cơ quan Liên Hiệp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) chỉ ra việc tiếp xúc nội dung độc hại làm tăng tỷ lệ nam giới tin vào những quan điểm kỳ thị phụ nữ lên gấp 1,8 lần và khả năng gây bạo lực cao gấp 2,6 lần.
Thường phụ nữ phải chịu đựng những lời lẽ miệt thị liên quan đến ngoại hình và vai trò của họ trong xã hội. Vì lẽ này, các nữ chính trị gia, nhà hoạt động nhân quyền, nhà báo và phụ nữ có tầm ảnh hưởng trên lục địa đều trở thành mục tiêu chính của bạo lực cực đoan và môi trường trực tuyến độc hại.
Một báo cáo năm 2021 của Liên minh Nghị viện Quốc tế và Liên minh Nghị viện châu Phi, khảo sát kinh nghiệm của 137 nữ nghị sĩ trên 50 quốc gia châu Phi, cho thấy 46% trong số họ là mục tiêu của các cuộc tấn công phân biệt giới tính trực tuyến và 42% nhận được những lời đe dọa giết người, hiếp dâm, đánh đập hoặc bắt cóc chủ yếu qua mạng xã hội. Tại Tunisia, nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn 2019-2023 cho thấy hơn 70% các bình luận chính trị liên quan đến phụ nữ chứa ngôn từ bạo lực hoặc lăng mạ nhắm vào vấn đề tình dục, đạo đức, tuổi tác và ngoại hình. Theo báo cáo của UN Women tại Kenya, mục đích của những hành vi này là nhằm gieo rắc nỗi sợ hãi và làm suy yếu uy tín của phụ nữ trong xã hội.
Đáng nói là các mối đe dọa này đang gây ra những hậu quả tàn khốc trong đời thực, bao gồm các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở phụ nữ và trẻ em gái và sự rút lui của nhóm dân số này khỏi đời sống xã hội - kinh tế. Hiện nay, khoảng 17 quốc gia ở châu Phi đã ban hành luật về tội phạm mạng. Năm 2024, Công ước Liên minh châu Phi về chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái được ban hành bao gồm cả bạo lực kỹ thuật số. Ngoài tăng cường bảo vệ thông qua luật pháp, Giám đốc vận động toàn cầu Ayesha Mago tại Sáng kiến Nghiên cứu về Bạo lực Tình dục nhấn mạnh việc các nền tảng phải nâng cao trách nhiệm và đặt an toàn của người dùng lên trên lợi nhuận. Người dân cũng cần tăng cường nhận thức chung về quyền của mình để bảo vệ bản thân khỏi những hành vi bạo lực kỹ thuật số.
|
Bất bình đẳng giới trong giới khoa học
Theo tờ Nature, việc trở thành cha mẹ gây ra những tác động tiêu cực đến sự nghiệp học thuật của phụ nữ nhiều hơn hẳn so với nam giới, làm giảm cơ hội làm việc tại các trường đại học, giảm khả năng nhận vị trí biên chế và làm sụt giảm số lượng công bố khoa học. Nguyên nhân chính được chỉ ra trong một phân tích quy mô lớn mới đây là do phụ nữ phải gánh vác trách nhiệm chăm sóc con cái nhiều gấp gần 5 lần so với nam giới.
Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận tác động của việc làm cha mẹ đối với sự nghiệp học thuật, đặc biệt là ở nữ giới. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ trong giới khoa học phải đối mặt với những "hình phạt làm mẹ", chẳng hạn như mức lương thấp hơn và ít cơ hội thăng tiến hơn nam giới. Mặc dù quỹ đạo sự nghiệp của nam và nữ giới khá tương đồng trước khi có con, con đường của họ lại rẽ nhánh rõ rệt sau khi đứa trẻ đầu lòng chào đời.
Nghiên cứu mới được công bố bởi Trung tâm Hiệu suất Kinh tế (thuộc Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London) đã đi sâu vào tác động trực tiếp của việc làm cha mẹ. Các tác giả đã phân tích dữ liệu của 13.347 người từng theo học chương trình tiến sĩ tại Đan Mạch từ năm 1996 đến 2017 và sinh con đầu lòng sau năm đầu tiên học tiến sĩ. Nguồn dữ liệu này được kết hợp với lịch sử xuất bản trên hệ thống Scopus và các câu trả lời từ một cuộc khảo sát năm 2017 tại các trường đại học Đan Mạch.
Kết quả phân tích cho thấy, 8 năm sau khi sinh con đầu lòng, cơ hội được làm việc tại một trường đại học của phụ nữ giảm tới 29% so với trường hợp họ không làm mẹ; trong khi ở nam giới, tỷ lệ này chỉ giảm 14%. Khác với các ông bố, những bà mẹ rời bỏ giới học thuật phải chịu mức giảm thu nhập 12% và ít có cơ hội làm việc tại các viện nghiên cứu hay phòng thí nghiệm.
|
MAI QUYÊN (Theo Guardian)