48 năm tuổi Đảng, là thương binh ¾, chị trông trẻ, khỏe hơn so với tuổi 71 của mình. Chị là Nguyễn Thị Mạnh (Ba Mạnh), từng là trung đội phó Trung đội nữ địa phương quân (ĐPQ) Ô Môn, sau quá trình công tác Đoàn ở ấp những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước...
* THAM GIA TRẬN ÔNG HÀO
Trinh sát Đại đội 20 báo về “Ngày mai giặc sẽ đổ quân vào Mương Khai”. Được lệnh hành quân, từ đơn vị, chị cùng Trung đội nữ mang vác leng, súng, ruột tượng gạo
lên đường lúc tám giờ tối, đến hơn sáu giờ sáng hôm sau mới đến rạch Ông Hào. Lúc này anh em bên Đại đội 20 đã tới trước, nấu cơm rồi. Các chị giăng hàng ngang đào công sự. Chưa đào xong lớp đất mặt thì đã thấy lố nhố những chiếc nón sắt, tiếng bước chân rầm rập của bọn lính - được đổ xuống từ những chiếc trực thăng. “ĐM. Con gái
Bắt hãm nó”. Nghe rõ tiếng bọn chúng, mấy anh mình nghiến răng “Mày ngon vô đi
”. Chúng bắn loạn xạ. Ánh - Người bạn gái dũng cảm, xinh đẹp với hai gò má luôn hồng hào, được đồng đội thương yêu gọi “Đỏ”, đã hy sinh! Cuộc xáp chiến diễn ra, Út Mây là người đầu tiên của trung đội nữ bắn chết tên lính đầu tiên phía bên kia bờ đất. “Đỏ ơi, có linh thiêng hãy tiếp sức cho đồng đội mình chiến thắng!”. Ba Mạnh khấn thầm rồi lao ra, đến bên thây thằng lính lấy hết súng, đạn bọc vòng quanh mình nó! Khoảnh khắc ấy chị không thể nào quên

Những ngày đầu tháng 4-2013, chị Ba Mạnh về thăm Di tích Ông Hào.
Trận đánh Ông Hào kéo dài từ tám giờ sáng đến khoảng bốn giờ chiều ngày 8-6-1965 thì kết thúc. Khoảng tám giờ tối mình mới rút hết quân, Trung đội nữ đưa được Đỏ về. Cô là một trong số 37 anh em đồng đội đã hy sinh; chưa kể 57 đồng chí khác bị thương. Sau này Ba Mạnh được biết thêm, hơn 120 giáo dân nhà thờ Ông Hào đã chết dưới bom đạn Mỹ. Một trận đánh, chỉ trong phạm vi bán kính khoảng hơn cây số, giặc đã huy động 1 chi đội xe M113, 6 máy bay B57, 4 chiếc đầm già, 50 chiếc trực thăng loại vận chuyển, đổ quân - trong đó có 21 chiếc đổ 4 lượt quân. Bao gồm khoảng 2.800 quân thuộc các trung đoàn 32, 33 (Sư 21); 1 tiểu đoàn biệt động quân Cọp Đen (Sư 44); 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến; 1 tiểu đoàn 29 Bảo an Cần Thơ (Phong Dinh); và khoảng 500 dân vệ. Trong khi, ta chỉ gồm Tiểu đoàn Tây Đô; Trung đội nữ ĐPQ Ô Môn; và du kích các xã Trường Long, Trường Thành, Trường Xuân. Kết quả, ta bắn rơi 1 máy bay B57, tiêu diệt gần 890 quân địch, trong đó có 3 cố vấn Mỹ; bắt sống 50 quân, làm bị thương hơn 120 quân khác
* VƯỢT LÊN NỖI ĐAU!
Giữa tháng 12 năm Mậu Thân 1968, chồng chị hy sinh. Lúc ấy, anh đã phục viên. Đang lúc họp chi bộ ở Định Môn, gặp địch đổ quân, anh em không có súng, bị rơi vào tay giặc. Chúng bắn các anh tại chỗ. Chồng chị, anh Nguyễn Văn Thân, sinh năm 1940, hạ sĩ thuộc đơn vị H37, bị giết. Ba ngày sau, chị ôm con gái tròn chín tháng tuổi, từ Trường Thành qua Định Môn mới lấy được thây chồng!
Vợ chồng cưới nhau do người em nuôi của má chị bên H37 làm mai, lúc chị đang làm Xã đội trưởng xã Trường Thành. Kỷ niệm sinh động nhất của anh chị là đứa con gái tên Xuân Khởi, mà lúc chị mang bầu, có lần nghe má kể: “Má à, sao bụng vợ con bự vậy, mà Đảng ủy còn phân công công tác hoài
”. Nghe anh hỏi, má chị mới giật mình nhớ ra con gái đã mang bầu khoảng sáu tháng rồi. “Mầy nói vậy, thôi má nhận lỗi trước, rồi má sẽ báo với Đảng ủy sau
”. Lúc ấy má chị là huyện ủy viên, phụ trách công tác giao bưu huyện Ô Môn. Sau đó, chị tiếp tục trụ lại căn chòi được bố trí từ trước ở ngoài đồng, chỉ tham gia hội họp, làm công tác nhẹ nhàng, không trực tiếp cầm súng chiến đấu nữa.
Gần ba năm sau ngày chồng hy sinh, chị lại được tin má chị bị giết. Lúc địch tát dân quyết liệt, không còn cơ sở bám trụ, má chị - Mẹ VNAH Võ Thị Diệp, sinh năm 1923 - chuyển địa bàn về hoạt động ở vùng đất nơi Ô Môn giáp với Giồng Riềng. Trong lúc xây đồn bót, giặc đào công sự, sát bên hầm bí mật của má. Hầm bí mật bị sụp, đồng chí bí thư xã, và đồng chí bảo vệ của má, cũng đang ở chung hầm, quăng lựu đạn lên, rồi nhảy thoát ra ngoài. Nghe nói, anh bảo vệ vượt qua bên kia sông Cái Đuốc an toàn. Đồng chí bí thư xã chém vè dưới mé sông, bị giặc giở lục bình bắn chết
Vài ngày sau, bà con phát hiện dưới sông có một xác phụ nữ nổi lên, nước ròng trôi ra, nước lớn tấp vào. Vợ chồng một lão nông bám trụ vùng này vớt xác lên với ý định đem ra chợ cho thân nhân nhìn mặt. Song, xác người phụ nữ đã thối rữa, không thể mang vác đi xa, ông bèn chôn tạm dưới mé bãi ven sông, rồi cặm một cây tre đánh dấu...
Sau 30-4-1975, lúc đi tìm mộ má, nhận ra má nhờ hai chiếc răng vàng, Ba Mạnh mới nghe kể lại. Còn lúc được tin má hy sinh, chị đã không gượng được. Hai ngặt kéo như cứng lại. Hơi thở tắc nghẹn từng hồi. Lúc này, chị cảm nhận được tâm trạng của má, khi mà chỉ trong vòng bốn, năm tháng trước, má đã phải chia lìa vĩnh viễn hai đứa con trai! Em thứ tư của chị: Nguyễn Hùng Cường, trung đội trưởng, thuộc đơn vị H37, trong lần chống càn ở xã Trường Long, bị trúng đạn M79 ngay giữa bụng, thi thể không còn nguyên vẹn. Khi ấy, chị đã về công tác ở ngành binh vận tỉnh. Liền tháng sau, em thứ năm Nguyễn Bình Phục, 16 tuổi, chưa đủ tuổi đi bộ đội, nhưng năn nỉ riết má cũng đồng ý cho đi, chẳng bao lâu sau thì bị biệt kích phục bắn trên đường. Đồng chí đi cùng Phục hy sinh tại chỗ. Còn xác của Phục được tìm thấy bên một đám cỏ bị quần nát cách đó không xa
* TÙ TỘI VÀ HỒI SINH!
Một ngày trong năm 1972, được tổ chức cử tham gia đánh dinh tỉnh phó, chị đi trên chiếc tàu từ vàm Rạch Sung ra Cần Thơ. Gần tới Mỹ Khánh, chiếc tàu bị chặn lại. Cũng như bao nhiêu người trên tàu, chị bị “phân loại”, xét hỏi. Phát hiện gói giấy báo nằm giữa lớp quần áo, đồ đạc trong chiếc túi xách bằng chỉ len móc khéo tay, tên dân vệ chụp ngay cổ tay chị, la lên “Có vũ khí”; cùng lúc tay kia nó giật ngay gói giấy báo lôi ra. Một tay bị giữ chặt, tay còn lại chị nhanh nhảu chụp vào gói đồ, giằng co, tìm kế hoãn binh: “Bình tĩnh đi, băng vệ sinh đó, tui mở cho coi”. “ĐM. Chất nổ
”. Tên dân vệ chưa kịp dứt lời, cảm giác cổ tay mình hơi bị buông lơi, chị nhanh chóng giật mạnh tay kia, gói giấy rơi tõm xuống sông. Cả đám dân vệ vội vã nhảy ào xuống lặn tìm.
Khi tìm thấy súng, chúng trói thúc ké chị, viết hàng chữ “Cộng sản, chuyên viên khủng bố, ám sát người” lên bìa cạc-tông, quàng trước ngực chị; rồi đạp, đánh nhừ tử khắp cơ thể chị. Xe jeep ào ào chạy tới từ hai hướng Thuận Nhơn (nay là Phong Điền) và Cần Thơ; chị bị tống lên xe. Chị thầm van vái chồng, má và hai em, xin phù hộ cho chị khôn ngoan tìm được lời khai hợp lý
Ở Cuộc cảnh sát Thuận Nhơn, chị khai: “Có người mướn tui đưa cái túi xách này cho người nào cũng ăn bận, đội nón và có túi xách giống y như tui vậy. Nếu xong việc, người ta trả tui ba triệu; có trục trặc gì thì quăng túi xuống sông. Tui làm thợ may, bà ngoại bệnh, hổng có tiền trị bệnh, tui nhận làm để có tiền lo cho ngoại
”. Chị khai vậy, bởi cái túi xách do các chị đàng mình dạy cho chị móc, lúc chị ngồi tù ba tháng ở Cờ Đỏ, sau khi bị nhận diện tại chợ Thới Lai. Không ai bị thiệt hại, vì không ai có cái túi xách như vậy!
Chị bị tống giam. Ở tù gần ba năm thì quê hương giải phóng! Ngày ấy, 30-4-1975, cùng với không biết bao nhiêu người tù kháng chiến đang bị giam cầm trong ngục tù hung bạo của quân thù, chị khóc vì òa vỡ niềm vui như được sinh ra lần thứ hai!
* * *
30 tháng 4 năm nay, theo kế hoạch phối hợp với Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên phường, chị - hội phó, cùng với chị Hồng Thủy - Hội trưởng Hội Người tù kháng chiến phường Ba Láng (Cái Răng - TP Cần Thơ) chuẩn bị mua sắm nhang, đèn, bột, đường để làm bánh, mang ra cúng mộ các liệt sĩ vô danh tại Nghĩa trang liệt sĩ Cần Thơ, nhân ngày giỗ hội 30 tháng Tư, mừng độc lập
Những ngày này, thành phố tháng Tư đỏ rợp cờ hoa phượng. Cái nóng như thiêu đốt không làm chậm lại được những công việc, công trình thi đua chào mừng 10 năm Cần Thơ lên thành phố loại 1 trực thuộc Trung ương. Mấy năm gần đây, viên đạn thù lù như ngón tay nằm trên gối trái đã khiến chân chị khập khiễng, đi lại hơi bất tiện. Song, chị vẫn tâm nguyện tiếp tục đồng hành, góp sức cùng địa phương, cùng thành phố, tô điểm Cần Thơ ngày thêm đẹp, giàu, văn minh, thu hút khách gần xa. Và, cái quán cà phê khiêm tốn của chị nép mình bên nghĩa trang thành phố sẽ trở thành điểm đến thân thiện, níu chân du khách mỗi lần đến viếng thăm, tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ!
Bài, ảnh: NHƯ BĂNG