Bài 2: “Vết rạn” thực tiễn: lưới liên kết ở ĐBSCL bao giờ thôi “thủng”?
Bên cạnh thành quả của những mô hình hợp tác xã (HTX) kiểu mẫu ở ĐBSCL và cả nước vẫn còn vấn đề tồn tại: Mối liên kết giữa HTX và doanh nghiệp vẫn mỏng manh trước những biến động của thị trường. Những rào cản từ cơ chế khó đi vào thực tiễn, cộng hưởng cùng “lỗ hổng” từ nội tại các HTX… khiến các bản hợp đồng bao tiêu thiếu đi “chất keo kết dính" là các biện pháp chế tài về pháp lý lẫn kinh tế. Chính những điểm nghẽn kinh niên này đang trực tiếp vô hiệu hóa sức mạnh cộng hưởng, khiến mối liên kết giữa đôi bên dễ dàng đứt gãy. Câu hỏi đau đáu đặt ra: Lưới liên kết ở ĐBSCL bao giờ thôi “thủng”?
Cơ chế hấp dẫn nhưng thủ tục phức tạp
Ngày 5-7-2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (Nghị định 98). Đây được kỳ vọng là khung pháp lý “xương sống” để thúc đẩy kết nối hợp tác doanh nghiệp - HTX. Tuy nhiên, nhìn vào con số thực tế công bố tại Diễn đàn Kinh tế hợp tác năm 2025, sau 7 năm triển khai Nghị định 98, cả nước mới chỉ thực hiện được khoảng 1.350 dự án liên kết - một con số quá khiêm tốn so với quy mô hơn 31.000 HTX trên toàn quốc. Ngay tại Cần Thơ, số liệu từ Liên minh HTX thành phố cũng cho thấy một thực trạng tương tự. Dù thành phố hiện có trên 320 HTX đang hoạt động nhưng giai đoạn 2020-2025 cũng chỉ ghi nhận 11 dự án/kế hoạch liên kết được phê duyệt thụ hưởng chính sách. Sự "ngán ngại" của các chủ thể không phải là cảm tính mà xuất phát từ những "vết rạn" trong khâu thực thi.
Theo đó, rào cản lớn nhất nằm ở quy trình thủ tục và hồ sơ đăng ký quá phức tạp. Nghị định 98 yêu cầu các dự án phải có thời gian liên kết ổn định từ 3-5 năm, trong khi đặc thù tổ chức sản xuất nông sản ĐBSCL luôn biến động theo mùa vụ. Việc đòi hỏi hệ thống chứng từ, hóa đơn minh bạch để thanh quyết toán hỗ trợ hạ tầng là một sự “đánh đố” đối với trình độ quản trị chưa chuẩn hóa của đa số HTX. Theo Liên minh HTX TP Cần Thơ, năng lực tiếp cận vốn và chính sách hỗ trợ của HTX còn rất yếu; tỷ lệ HTX tiếp cận được các nguồn vốn ưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX hay ngân hàng vẫn còn ở mức khiêm tốn. Chính khoảng cách vận dụng cơ chế vào thực tiễn khiến những chính sách dù rất nhân văn vẫn khó lòng trở thành đòn bẩy thực chất. Các bản hợp đồng bao tiêu nông sản vì thế nhiều lúc không được thực thi đầy đủ như một hợp đồng giao dịch kinh tế có sự bảo trợ của pháp luật mà chỉ có giá trị như thỏa thuận hợp tác và dễ dàng đứt gãy trước sức ép từ thương lái hoặc biến động thị trường thế giới ảnh hưởng giá cả nông sản.

HTX dịch vụ nông nghiệp Bến Bà Chi (tỉnh An Giang) tiêu biểu với mô hình liên kết sản xuất xoài theo tiêu chuẩn VietGAP, giúp nâng cao giá trị cây xoài và thu nhập cho nhà vườn. Ảnh: THANH LONG
Đáng chú ý, một trong những "nút thắt" chí mạng của mối quan hệ liên kết trong nông nghiệp là sự thiếu nguồn lực tài chính độc lập đủ mạnh. Theo Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (KTTT), Bộ Tài chính, phát triển liên kết được xác định là chính sách đặc thù, mang tính chiến lược trong nông nghiệp, nhưng thực tế nguồn ngân sách riêng để thực hiện rất hạn chế. Phần lớn nguồn vốn hỗ trợ hiện nay chủ yếu phải lồng ghép, "vay mượn" từ các chương trình hay các chính sách hiện hành khác. Sự lệ thuộc này tạo nên những vướng mắc không nhỏ trong triển khai, khi các quy định về giải ngân, tiêu chí thụ hưởng vốn lồng ghép thường chồng chéo, không đồng nhất, khiến dòng vốn hỗ trợ liên kết vốn đã ít ỏi lại càng trở nên khó tiếp cận đối với HTX.
Số liệu công bố từ Bộ Tài chính bóc tách một phần nào thực tế trên: Giai đoạn 2018-2025, trong tổng số hơn 15.243 tỉ đồng huy động cho các dự án liên kết toàn quốc, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ khoảng 20,9%, phần còn lại 79,1% dựa vào vốn đối ứng. Chính sách hỗ trợ 30% trang thiết bị, hạ tầng (không quá 10 tỉ đồng/dự án) dù mang danh khuyến khích nhưng thực chất lại là “chiếc áo quá rộng” đối với các HTX ĐBSCL. Với quy mô nhỏ, yếu về tài chính, mức đối ứng 70-80% tổng vốn đầu tư nằm ngoài khả năng xoay xở của các HTX. Điều này lý giải vì sao số lượng chuỗi liên kết bền vững tại ĐBSCL - vùng trọng điểm bảo đảm an ninh lương thực của cả nước - quá ít.
Thách thức năng lực nội tại và “vòng lặp bất tín”
Nếu cơ chế và vốn là “phần cứng” thì năng lực nội tại của HTX chính là “hệ điều hành” để vận hành chuỗi liên kết. Thế nhưng, tại ĐBSCL, các HTX đang bộc lộ những lỗ hổng quản trị nghiêm trọng, dẫn đến một hệ quả: Sự đổ vỡ niềm tin của các bên liên quan.
Một nghịch lý đang tồn tại là đội ngũ cán bộ điều hành HTX đang được trẻ hóa, nâng cao trình độ nhưng năng lực điều hành vẫn chưa theo kịp thực tế. Theo Ban Chỉ đạo KTTT TP Cần Thơ, tỷ lệ cán bộ có trình độ từ đại học, cao đẳng trở lên của các HTX đã đạt trên 25,5%. Đây là con số đáng khích lệ, nhưng thực tiễn bình diện chung ở ĐBSCL và cả nước chỉ ra rằng đội ngũ này có bằng cấp nhưng lại thiếu về kinh nghiệm và kỹ năng thực chiến. Phần lớn các HTX hiện nay thiếu trầm trọng nhân lực có kỹ năng chuyên sâu về quản trị chuỗi, thương thảo hợp đồng, nhất là hợp đồng quốc tế và năng lực dự báo thị trường. Không chỉ vậy, nhiều địa phương phản ánh tình trạng thiếu hụt nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài, đặc biệt là các chuyên gia tư vấn độc lập để giúp chuẩn hóa vùng nguyên liệu, khiến HTX luôn ở thế yếu khi thương thảo hợp tác với doanh nghiệp.
Về vấn đề này, bà Nguyễn Kim Thùy, Giám đốc HTX Kỳ Như, TP Cần Thơ, phản ánh: Sau hơn 6 năm hoạt động, dù đã phát triển lên 52 thành viên với vùng nuôi 16ha và đưa sản phẩm cá thác lác vào hệ thống phân phối lớn như MM Mega Market, Co.opmart hay xuất khẩu đi Mỹ, Hàn Quốc, bà vẫn trăn trở về "ngưỡng" tư duy quản trị và công nghệ. Bà Nguyễn Kim Thùy thẳng thắn chia sẻ: “Khi tham gia liên kết, thu nhập thành viên HTX tăng thêm khoảng 2-3 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, nếu người đứng đầu HTX không cập nhật kiến thức về thị trường, quản trị và tiêu chuẩn quốc tế, sẽ rất dễ bị “ngợp” khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Giám đốc HTX ngày nay không chỉ giỏi sản xuất mà còn phải hiểu thị trường và biết kết nối chiến lược”. Đặc biệt, vấn đề chuyển đổi số đang là rào cản lớn với HTX Kỳ Như. Bà Thùy bày tỏ mong muốn được hỗ trợ kinh phí đầu tư máy móc, phần mềm quản lý và đào tạo nhân lực vì “việc số hóa không chỉ giúp HTX minh bạch hơn trong mắt doanh nghiệp đối tác, mà còn nâng cao năng lực quản trị, đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu”.

Hoạt động sản xuất tại HTX Kỳ Như, TP Cần Thơ. Ảnh: MỸ HOA
Liên minh HTX Việt Nam cũng nhìn nhận chuyển đổi số trong khu vực này còn chậm, trình độ công nghệ vẫn trong tình trạng lạc hậu. Mức độ cơ giới hóa, hiện đại hóa còn thấp khi chỉ có khoảng 10% HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở mức cơ bản. Quá trình chuyển đổi số vẫn còn lúng túng do thiếu nhân lực thành thạo công nghệ, thiếu vốn đầu tư ban đầu và đặc biệt là ban quản trị vẫn còn tâm lý e ngại thay đổi. Khi người cầm lái vẫn vận hành theo tư duy sản xuất thuần túy, thiếu nhạy bén với các tiêu chuẩn xanh và công nghệ số, họ mặc nhiên đánh mất vị thế trên bàn đàm phán. Nguyên nhân do doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp lớn lo ngại HTX không đảm bảo tính ổn định về số lượng, sự đồng đều về chất lượng và uy tín trong tuân thủ hợp đồng đã ký kết.
Vấn đề năng lực quản trị của HTX cũng đẩy các bên vào vòng lặp khủng hoảng niềm tin. Theo đại diện VCCI, đây là một “logic bế tắc”: Doanh nghiệp không dám bao tiêu dài hạn khi chưa thấy năng lực đảm bảo từ HTX. Ngược lại, HTX không thể chuyên nghiệp hóa quản trị hay đầu tư công nghệ nếu thiếu cam kết về thị trường. Tình trạng thiếu niềm tin khiến đôi bên chỉ dừng lại ở mức “thăm dò”. Hệ quả là khi giá tăng, xã viên sẵn sàng “bẻ kèo” bán ngoài; còn khi giá giảm, doanh nghiệp lại dùng rào cản kỹ thuật để ép giá nhằm tự bảo vệ trước rủi ro. Chừng nào HTX chưa chứng minh được năng lực qua quản trị minh bạch, thực thi thực tế và doanh nghiệp vẫn giữ thế thủ, lưới liên kết tại ĐBSCL vẫn sẽ tiếp tục “thủng” ngay tại "mắt xích" con người.
***
Từ những nỗ lực tìm kiếm giải pháp cho "vết rạn" trong thực tiễn liên kết nông nghiệp ở ĐBSCL, câu hỏi được đặt ra: Vậy, những nền nông nghiệp hàng đầu như Hà Lan hay Đức đã giải "vòng lặp bất tín” này thế nào để biến tập thể nông dân nhỏ lẻ thành những chủ thể kinh tế đủ mạnh để thương lượng sòng phẳng trên bàn đàm phán với đối tác thương mại toàn cầu?
(Còn tiếp)
Thanh Mỹ
Bài 3: Chiến lược của những “gã khổng lồ” và lời giải cho vùng ĐBSCL