07/02/2015 - 16:48

Còn đây nét Tết xưa...

Bút ký  ĐĂNG HUỲNH

Bài 2: Mỹ tục ngày Xuân

Ngày xuân, mọi người đều dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp, phúc lộc, tiền tài, an khang thịnh vượng. Không chỉ bằng tâm và ý, lời chúc còn được thể hiện qua những mỹ tục: mừng thọ ông bà, cha mẹ, xin chữ - cho chữ, đôi câu đối đỏ, khai bút đầu năm…

Từ bao đời qua, lời chúc đầu năm đã trở thành một mỹ tục đẹp gắn kết tình thân, tình nghĩa xóm làng, thể hiện sự quan tâm, yêu thương lẫn nhau.

Cho chữ - xin chữ: ước nguyện đầu năm

Dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa:

“Chẳng ham ruộng cả, ao liền

Chỉ ham cái bút, cái nghiên ông đồ”

 Chúc Tết ông bà. Ảnh: DUY KHÔI

Vì thế, tục lệ ông đồ cho chữ, viết thư pháp ngày xuân hàng trăm năm qua vẫn là hình ảnh quen thuộc trong mỗi dịp Tết. Ở TP Cần Thơ, tục lệ này vẫn được tôn vinh, duy trì và phát triển khá mạnh mẽ với hàng chục điểm dọc theo các tuyến phố, trường học... Từ ngày 16 tháng Chạp năm nay, các thầy đồ ở nhiều độ tuổi đã tụ hội về “Phố Ông đồ” trước Bảo tàng TP Cần Thơ để cho chữ khách tham quan. Trong trang phục áo dài, khăn đóng, bên “cái nghiên, cái bút”, những chữ mang nhiều ý nghĩa đầu năm: “Trí”, “Đức”, “Nhân”, “Tài”… được tặng khách bằng tấm lòng và tài hoa của người viết chữ.

Nghệ sĩ thư pháp Thiện Nhân, chủ nhiệm CLB Thư pháp Cội nguồn (trực thuộc Trung tâm Văn hóa TP Cần Thơ) vốn là một họa sĩ có tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh với hơn 40 năm trong nghề, và rất say mê thư pháp. Theo nghệ sĩ Thiện Nhân, có 3 cách viết thư pháp phổ biến là chân phương (những nét thanh – đậm, âm – dương), thảo thư (viết không giở cọ lên) và dị thể (hay cuồng thể, là viết dối nét, biến tấu). Hơn chục năm theo nghề mà chính ông cảm tác gọi là “dăm ba chữ thành câu họa bút”, Thiện Nhân quý nhất vẫn là thời khắc cho chữ đầu năm. Bởi chính lúc ấy, ông có cảm giác mình như đang “viết cả mùa xuân, viết cả tấm lòng”. “Ông đồ chính hiệu” là khi có khách đến xin chữ, không cần họ nói muốn xin chữ gì, nhìn vào nét mặt, điệu bộ, có thể cho ngay chữ họ cần. “Đó là tâm liền tâm, đời nghiên bút cho ông đồ có linh cảm đó” – nghệ sĩ Thiện Nhân nói.

Người đến xin chữ ở “Phố Ông đồ” ngày cuối năm khá đông, đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp. Người trung niên xin chữ Tâm, chữ Đức; thanh niên nam nữ xin chữ: Trí, Danh, Duyên, hay mang về tặng cha mẹ, ông bà chữ: Thọ, Tâm, An Khang… Tay nâng niu chữ “Tài” vừa mới xin được ở Phố Ông Đồ còn chưa ráo mực, anh Nguyễn Quốc Bảo (quận Ninh Kiều), vui vẻ: “Tôi ước muốn làm ăn tấn tới, nên năm nào cũng xin một chữ về treo trong nhà làm mục tiêu phấn đấu”.

Theo quan niệm xưa, mỗi bức thư pháp còn thể hiện tâm - ý - khí - lực của người viết. Những nét vẽ “rồng múa phượng bay” đó thường được viết trên nền giấy đỏ, giấy hồng - những màu sắc tượng trưng cho sự may mắn, tốt lành. Với những nghệ sĩ thư pháp, việc cho chữ dù có đông người đến đâu cũng không bao giờ được viết vội, viết ẩu, mà đôi khi phải dành nhiều thời gian để giảng giải cho khách ý nghĩa của từng nét chữ. Chị Danh Thị Hồng Đào, có hơn 5 năm viết thư pháp khắp phố phường Cần Thơ ngày Tết, nói: “Viết chữ Nhân, Nghĩa... mà tấm lòng trống rỗng thì chữ vô nghĩa lắm. Chỉ mỗi cách trao chữ cũng phải học: Đứng dậy, trao hai tay cúi đầu là điều người viết thư pháp phải học. Đó là cái đạo của người “chơi chữ”!”.

Ở Cần Thơ vài năm nay, việc cho chữ ngày Tết được duy trì dưới nhiều hình thức khác nhau: viết lên chữ, gỗ, đá, đồ lưu niệm và nhất là lên cặp dưa hấu, bưởi chưng trên bàn thờ ngày Tết. Xin chữ - cho chữ ngày xuân đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa, thể hiện ước vọng đầu năm, khát vọng của người dân Cần Thơ vươn tới “Chân – Thiện – Mỹ”.

Nếp xưa ngày Tết

Chúc Tết ngày xuân đã trở thành thuần phong, mỹ tục. Tết Giáp Ngọ vừa qua, tôi có dịp tham dự một buổi chúc Tết của gia đình bà Nguyễn Thị Vỗ (quận Ninh Kiều). Con cháu trong trang phục chỉnh tề, khoanh tay chúc thọ bà cụ đã hơn 80 tuổi bằng những lời lẽ thật ý nghĩa. Bà cụ phát cho con cháu thay lời chúc tài lộc – tiền mừng tuổi. Đó là tờ giấy 5 ngàn đồng được cẩn trọng bỏ vào phong bao đỏ kín đáo.

Như đã nói, ngày Tết đã dịp để con cháu nhớ ơn tổ tiên, nguồn cội, không chỉ ông bà sinh tiền mà còn là người quá cố. Đêm 30 Tết, sau khi đồng hồ điểm 12 giờ, nhiều gia đình ở Nam bộ thường cung kính thắp nhang bàn thờ gia tiên để mừng tuổi ông bà, cầu gia đạo bình an. Ngày Tết, khách đi chúc Tết cũng đều phải thắp nhang lễ gia tiên của nhà mà họ đến chúc Tết trước khi chúc Tết chủ nhà. Đi chúc Tết còn gọi đi lễ Tết là vì vậy.

Ngày cuối năm, chúng tôi tìm đến nhà nhà giáo Lê Văn Quới (quận Ninh Kiều), người am tường phong tục tập quán ngày Tết của người Nam bộ xưa, từng là diễn giả của nhiều chương trình truyền hình về khảo cứu. Chia sẻ với chúng tôi, nhà giáo Lê Văn Quới chiêm nghiệm: “Ngày Tết, mọi người gặp nhau lựa lời tốt đẹp để chúc tụng, khen ngợi. Ba ngày Tết kiêng kỵ nói điều không may, ăn vận màu sắc sáng sủa… suy cho cùng là để hướng đến điều tốt, cái đẹp”.

Nhà giáo Lê Văn Quới nhớ lại, thuở ông còn nhỏ, còn tục đặt tên “xấu hấy” – nghĩa là những người thường bị đau yếu được cha mẹ chọn đặt tên không đẹp để “dễ nuôi”. Ngày Tết, ông đồ ngồi ở nhà vuông (nhà việc của ấp, làng) để cho chữ và thực hiện nghi thức đổi tên. Tùy theo dung mạo, tính cách, ông đồ chọn một cái tên thật đẹp, ý nghĩa để người có tên “xấu hấy” dùng trong 3 ngày Tết. Khi đổi tên xong, nhà việc vang tiếng mõ gõ báo tin. Cái tên mới thay lời chúc của cụ đồ và xóm làng dành cho người được đổi.

Với người theo nghiệp bút nghiên, tục khai bút đầu năm được xem là lời chúc phúc, hanh thông vận hội trong năm mới. Nhà giáo Lê Văn Quới bao Tết qua vẫn duy trì tục lệ này đã đọc cho chúng tôi nghe một vài câu thơ xưa:

“Tân niên khai thần bút

Vạn sự giai thành kiết

Kiết khánh vinh hoa phúc lộc vinh”

Việc đặt bút viết chữ gì, kiểu gì là suy nghĩ và gửi gắm tâm tư, tình cảm của người viết. Lắm khi, đó chỉ là vài câu: “Khai bút đại cát”, “Tân xuân đại cát” (nghĩa là đầu năm khai bút để gặp điều tốt lành) hay có khi là bài thơ cảm tác. Buổi sáng mùng Một đi lễ chùa hái lộc đầu năm, họ cầm theo tờ giấy để các cụ đồ cao niên “bói chữ”.

Thật thích thú khi được nghe nhà giáo kể lại nhiều tục lệ lạ, nay đã không còn. Thời ông còn cắp sách, ngày Tết học trò đều đến nhà thầy để chúc Tết. Cụ đồ thường tụ họp các trò để làm thơ “khẩu khí” – nghĩa là vịnh cảnh vật xung quanh. Có người vịnh tiếng pháo nổ, vịnh đòn bánh tét; có người vịnh nhành hoa mai, đàn gà đang ăn trước sân… Qua những bài thơ “khẩu khí” đó, cụ đồ ít nhiều đoán được tính cách, vận mệnh của học trò.

* * *

Ngày nay, nhiều tục lệ cũ đã ít hoặc không còn được duy trì. Đáng buồn là một số tục lệ trở nên thực dụng (lì xì) hay mê tín (đốt vàng mã, bói toán…). Thế nhưng, “ôn cố tri tân” để cảm khái tinh thần chuộng lễ nghĩa của người xưa, ngẫm ra cũng là việc làm ý nghĩa ngày cuối năm.

Bài cuối: Tết về, xem hội múa lân

Chia sẻ bài viết