Để giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, Ấn Độ vừa “nối gót” Trung Quốc và Indonesia phê duyệt kế hoạch trị giá 3,9 tỉ USD nhằm chuyển đổi trữ lượng than khổng lồ của nước này thành khí đốt.
Mục tiêu đầy tham vọng
Không giống như sản xuất điện bằng than thông thường, khí hóa than chuyển đổi nguồn tài nguyên này thành khí tổng hợp thay vì đốt trực tiếp. Quá trình có từ nhiều thế kỷ này làm nóng và cho than phản ứng với ôxy và hơi nước để tạo ra khí tổng hợp, chủ yếu gồm khí CO và hydro. Khí tổng hợp sau đó được làm sạch và chuyển đổi thành nhiều nguyên liệu sản xuất phân bón, methanol, khí tự nhiên tổng hợp, hydro và dimethyl ether (DME), vốn có thể được dùng làm chất thay thế cho khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG).

Nhà máy khí hóa than quy mô thương mại duy nhất tại Ấn Độ ở bang Odisha. Ảnh: CNA
Atanu Mukherjee, Giám đốc điều hành công ty tư vấn chuyển đổi năng lượng Dastur Energy (Mỹ), cho rằng khí hóa than là cách để phục hồi năng lượng chứ không nhằm chấm dứt hoàn toàn sự phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, bởi nhu cầu công nghiệp rất lớn, đa dạng.
Các chuyên gia cho biết công nghệ khí hóa than vẫn chỉ là một lĩnh vực nhỏ vì các dự án này tốn kém, phức tạp về mặt kỹ thuật và chậm mở rộng quy mô. Tuy nhiên, công nghệ này đang thu hút sự quan tâm trở lại khi các nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu dầu khí tìm kiếm giải pháp giảm thiểu tác động từ những cú sốc nhiên liệu hóa thạch.
Lấy Trung Quốc làm ví dụ, ông Mukherjee nói rằng quá trình xây dựng nhà máy khí hóa than của nước này là một “chặng đường dài” và cần “10 đến 15 năm” để đạt được quy mô triển khai lớn. Dù vậy, Trung Quốc tiếp tục đầu tư 13 dự án chuyển đổi than thành khí đốt mới, trong bối cảnh Bắc Kinh tìm cách khai thác than trong nước và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu khí đốt tự nhiên. Các dự án này có khả năng cung cấp khí tổng hợp tương đương 12% nguồn cung khí đốt của quốc gia Đông Á. Hồi tháng 2, Indonesia cũng đã công bố khởi động 6 dự án khí hóa than với khoản đầu tư 9,8 tỉ USD để sản xuất DME nhằm thay thế nguồn cung LPG.
Tuy sở hữu trữ lượng than lớn thứ 5 thế giới nhưng Ấn Độ vẫn là nền kinh tế phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu. Tháng trước, New Delhi đã phê duyệt một kế hoạch trị giá 3,9 tỉ USD để hỗ trợ quá trình khí hóa than. Giới chức kỳ vọng chương trình sẽ thu hút đầu tư tư nhân quy mô lớn và cho rằng đây là cách tăng cường an ninh năng lượng, sử dụng than trong nước hiệu quả hơn và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu, phân bón và nguyên liệu hóa học. Trước đó, Ấn Độ đã khởi động Sứ mệnh Khí hóa Than Quốc gia vào năm 2021, đặt mục tiêu đầy tham vọng là khí hóa 100 triệu tấn than/năm vào năm 2030.
Quá nhiều thách thức
Giới phân tích cho rằng nỗ lực nói trên của New Delhi là cấp thiết trong bối cảnh tình trạng gián đoạn vận chuyển qua eo biển Hormuz đe dọa nguồn cung cấp dầu thô, LPG và nguyên liệu phân bón cho các nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu như Ấn Độ.
Tuy nhiên, tham vọng chuyển đổi than thành khí đốt của Ấn Độ sẽ phải đối mặt một loạt thách thức. Trong đó, trở ngại chính là việc khí hóa loại than có hàm lượng tro cao có thể làm giảm hiệu suất và đòi hỏi lò khí hóa được thiết kế đặc biệt. Theo báo cáo của viện nghiên cứu NITI Aayog, than Ấn Độ thường chứa từ 30-45% tro, trong khi hàm lượng tro trong than của Trung Quốc hay Indonesia chưa tới 20%.
Sử dụng nước để khí hóa than là một thách thức khác. Tùy thuộc vào sản phẩm cuối cùng và công nghệ khí hóa, quá trình khí hóa than có thể cần một lượng nước đáng kể. Tuy nhiên, ở Ấn Độ, thách thức này thậm chí còn khó khăn hơn thách thức về hàm lượng tro trong than cao.
Ngoài những hạn chế về mặt kỹ thuật, Ấn Độ còn đối mặt nhiều khó khăn trong việc mở rộng quy mô khí hóa than. Hiện New Delhi chỉ có 1 nhà máy khí hóa than quy mô thương mại đang hoạt động, với công suất khí hóa gần 2 triệu tấn than/năm. Do đó, để đạt được mục tiêu năm 2030, Ấn Độ cần phải có hàng chục nhà máy như vậy. Được biết, việc xây dựng một nhà máy khí hóa than quy mô thương mại thường “ngốn” từ 2-4 tỉ USD.
TRÍ VĂN (Theo CNA)