05/08/2026 - 16:02

Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 5-8, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, đã có góp ý quan trọng cho dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).

Đại biểu Quốc hội Phạm Thị Minh Huệ phát biểu tại phiên thảo luận ở tổ.

Theo Đại biểu Phạm Thị Minh Huệ, Khoản 4, Điều 5 dự thảo quy định “4. Khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, trang bị phương tiện kỹ thuật và bảo đảm các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở phù hợp với tiến trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số theo quy định của pháp luật, bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước và thông tin khác được pháp luật bảo vệ”. Dự thảo mới chỉ nêu “khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo…” nhưng chưa xác định công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo chỉ hỗ trợ hay được tham gia đề xuất phương án; trách nhiệm kiểm tra thông tin do trí tuệ nhân tạo tạo ra; có được đưa dữ liệu vụ việc, thông tin cá nhân, bí mật gia đình hoặc bí mật kinh doanh vào hệ thống hay không; cơ chế bảo đảm dữ liệu không bị sử dụng cho mục đích khác; trách nhiệm khi công cụ trí tuệ nhân tạo cung cấp thông tin sai.

Do đó, để quy định chặt chẽ hơn, đại biểu đề xuất nghiên cứu bổ sung nội dung “Việc ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong hòa giải ở cơ sở chỉ nhằm hỗ trợ hoạt động hòa giải, không thay thế hòa giải viên và không làm ảnh hưởng đến quyền tự quyết, sự tự nguyện, tính khách quan, bảo mật thông tin của các bên” vào Điều 4 dự thảo quy định nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Điều 7 dự thảo quy định tiêu chuẩn hòa giải viên “Người được bầu hoặc chỉ định làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam cư trú thường xuyên tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn sau đây: 1. Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; 2. Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật; 3. Không trong thời gian bị xử lý kỷ luật hoặc bị truu cứu trách nhiệm hình sự”. Khoản 1 quy định hòa giải viên phải là công dân Việt Nam cư trú thường xuyên tại cơ sở cần làm rõ “cư trú thường xuyên” được xác định theo căn cứ nào; người đang tạm trú lâu dài có được tham gia không; người có uy tín nhưng không cư trú thường xuyên tại địa bàn có bị loại trừ tuyệt đối không. Khoản 3 quy định “không trong thời gian bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” cần làm rõ xử lý kỷ luật trong cơ quan, tổ chức nào; “bị truy cứu trách nhiệm hình sự” tính từ thời điểm nào; người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được xóa án tích có được tham gia hay không. Đề nghị làm rõ các nội dung này để quy định cụ thể, tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện.

Khoản 1, Điều 14 dự thảo quy định “1. Tổ hòa giải có Tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ. Đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số”. Quy định mỗi tổ phải có hòa giải viên nữ và ở vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số là chính sách phù hợp. Tuy nhiên, cần có cơ chế xử lý nếu địa bàn không có người đáp ứng tiêu chuẩn hoặc không có người tự nguyện tham gia thì sẽ xử lý như thế nào, đề nghị quy định cho rõ.

Điểm a, khoản 2, Điều 21 dự thảo quy định “2. Các bên trong hòa giải có các nghĩa vụ sau đây: a) Trình bày đúng sự thật các tình tiết của vụ, việc; cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan;”. Hòa giải ở cơ sở không phải là thủ tục tố tụng, do đó không nên thiết kế nghĩa vụ này theo hướng quy định phải chứng minh, chứng cứ hoặc chế tài như trong tố tụng. Đề xuất điều chỉnh thành “a) Cung cấp thông tin, tài liệu mà mình biết và chịu trách nhiệm về tính trung thực của thông tin, tài liệu do mình cung cấp”.

Điều 26 dự thảo quy định: “Điều 26. Hòa giải giữa các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau

Trường hợp các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau thì tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố nơi có vụ, việc hoặc nơi tiếp nhận đề nghị hòa giải chủ trì tổ chức thực hiện hòa giải và thông báo với Trưởng ban công tác Mặt trận nơi có các bên liên quan cử tổ hòa giải phối hợp tổ chức hòa giải”.

Quy định này mới chỉ xác định tổ hòa giải chủ trì, nhưng chưa giải quyết được việc tổ trưởng nào phân công hòa giải viên; địa điểm và chi phí đi lại; trường hợp 2 tổ cùng muốn chủ trì; trách nhiệm ghi sổ và lưu hồ sơ; việc theo dõi thực hiện thỏa thuận. Do đó, đề xuất bổ sung quy định giao Chính phủ quy định chi tiết.

Khoản 1, Điều 27 dự thảo quy định: “Điều 27. Kết thúc hòa giải

1. Việc hòa giải được kết thúc khi hòa giải thành.

Quy định hòa giải kết thúc khi hòa giải thành, nhưng chưa quy định trường hợp các bên đạt thỏa thuận một phần. Do đó, đề xuất nghiên cứu bổ sung nội dung “Trường hợp các bên chỉ thỏa thuận được một phần nội dung vụ việc thì phần đã thỏa thuận được ghi nhận là hòa giải thành; phần chưa thỏa thuận được tiếp tục hòa giải hoặc kết thúc không thành theo yêu cầu của các bên”.

P.V

Chia sẻ bài viết