Từ ngày 30-9 đến 3-10, Iraq dự kiến sẽ tổ chức 4 “Ngày Chủ quyền” nhằm kỷ niệm sự kiện Mỹ hoàn tất rút quân khỏi quốc gia vùng Vịnh sau hơn 2 thập kỷ can thiệp.

Lực lượng bán quân sự Hashd al-Shaabi tuần tra tại thủ đô Baghdad, Iraq. Ảnh: AFP
“Canh bạc” đầy rủi ro
Theo kế hoạch, Mỹ đưa những binh sĩ cuối cùng khỏi Iraq vào ngày 30-9. Những quân nhân này đã giữ vai trò cố vấn trong chiến dịch của liên minh chống tổ chức tự xưng Nhà nước Hồi giáo (IS) do Mỹ dẫn dắt từ năm 2015.
Kế hoạch rút quân của Mỹ có từ trước thời Thủ tướng Ali al-Zaidi, người đưa ra tầm nhìn rộng hơn về việc tái khẳng định quyền lực của nhà nước Iraq. Ông muốn đẩy nhanh các nỗ lực giải giáp tất cả các lực lượng dân quân trong nước trước tháng 6-2027, bao gồm cả những nhóm thân Iran hùng mạnh vốn đứng sau các cuộc tấn công trên khắp khu vực trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ - Israel với Iran.
Theo Douglas Silliman, cựu Đại sứ Mỹ tại Iraq và Kuwait, việc Mỹ rút quân dường như là một phần trong chiến lược của ông al-Zaidi nhằm “làm suy yếu về mặt chính trị” các nhóm dân quân có ảnh hưởng. Những nhóm này từ lâu đã viện dẫn sự hiện diện của quân đội Mỹ, cũng như các tác nhân nước ngoài khác như Thổ Nhĩ Kỳ, là lý do chính để biện minh cho việc duy trì kho vũ khí và hệ thống chỉ huy riêng của họ.
Tuy nhiên, toan tính của ông al-Zaidi là một “canh bạc” đầy rủi ro, tạo dư địa cho Iran gia tăng ảnh hưởng tại Iraq và mở ra nguy cơ xảy ra đối đầu trong nước. Một số nhóm dân quân tuyên bố sẽ từ chối giao nộp vũ khí. Điều này cũng tạo khả năng Mỹ gia tăng sức ép nếu các nhóm hoạt động trong lãnh thổ Iraq tiếp tục tấn công các cơ sở và tài sản của Washington.
Ứng phó với thực tế an ninh mới
Cách Chính phủ Iraq xoay xở với việc Mỹ chấm dứt sự hiện diện quân sự sẽ có tác động sâu rộng đến an ninh nước này trong tương lai.
Iraq tương đối ổn định trong những năm gần đây sau khi tái chiếm nhiều vùng lãnh thổ từ tay IS vào năm 2017. Sự ổn định này vẫn được duy trì kể từ khi Mỹ bắt đầu rút quân cách đây 6 năm dưới thời Tổng thống Donald Trump, với vài trăm binh sĩ cuối cùng đóng tại căn cứ không quân Erbil ở vùng Kurdistan, miền Bắc Iraq vào cuối năm ngoái.
Ông al-Zaidi đã tìm cách xây dựng một số cơ chế bảo đảm trong bối cảnh nỗ lực giải giáp và sáp nhập các nhóm dân quân vào lực lượng chính quy Iraq. Trong đó, ông lùi thời hạn ban đầu là ngày 30-9-2026 sang tháng 6-2027 để hợp nhất toàn bộ vũ khí.
Đầu tháng này, nhà lãnh đạo Iraq cho biết cả Mỹ và các nhóm vũ trang thân Iran đều cam kết sẽ không tiến hành bất kỳ cuộc tấn công nào trong 90 ngày sau khi lính Mỹ rời đi, nhằm tránh làm tình hình xấu đi trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, Renad Mansour, giám đốc dự án Sáng kiến Iraq tại Viện Chatham House (Anh), cảnh báo: “Các nhóm thuộc Trục kháng chiến của Tehran trong khu vực rốt cuộc vẫn hoàn toàn trong trạng thái chiến tranh, phối hợp với Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran. Do vậy, họ sẽ tiếp tục nhắm mục tiêu vào các lợi ích của Mỹ”.
Iran, quốc gia tuyên bố mục tiêu cuối cùng của nước này là buộc lực lượng Mỹ rời khỏi toàn bộ Trung Đông, coi việc rút quân khỏi Iraq như một thắng lợi cho “Trục kháng chiến”.
Một số chuyên gia lưu ý rằng các lực lượng an ninh Iraq - bao gồm quân đội, cảnh sát và các nhóm dân quân từng thuộc Lực lượng Huy động Nhân dân (PMF) - đã tiến bộ nhiều trong việc đối phó IS. Thế nhưng trong khi Quốc hội Iraq đã phê chuẩn một phần Nội các vào tháng 5, một số vị trí an ninh chủ chốt vẫn chưa được bổ nhiệm, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng. Ngoài ra, Iraq vẫn tiếp tục thiếu năng lực phòng không đáng kể, khiến đây có thể là điểm yếu chí mạng nếu tình hình an ninh trong nước mất kiểm soát.
| Một số người Iraq lo ngại các lực lượng an ninh được Washington đào tạo và tài trợ vẫn chưa đủ năng lực bảo vệ đất nước. 4.500 binh sĩ xứ cờ hoa đã thiệt mạng trong hơn 2 thập niên tham chiến tại nước này, cao gần gấp đôi so với cuộc chiến của Mỹ ở Afghanistan, vốn kết thúc vào năm 2021. |
HẠNH NGUYÊN (Theo Al Jazeera, Reuters)