Giao tranh bùng phát trên thế giới khiến nhu cầu về vũ khí và thiết bị quân sự tăng mạnh, nhưng doanh thu năm ngoái của các nhà thầu quốc phòng lớn giảm so với năm 2021. Thực tế này phản ánh vấn đề đang diễn ra trong chu trình sản xuất vũ khí, đồng thời nhắc nhở những cường quốc về thách thức đảm bảo kho dự trữ vũ khí đáp ứng các mục tiêu chiến lược.

Nhà máy sản xuất xe tăng của Nga hồi tháng 7-2023. Ảnh: AP
Trong báo cáo hồi đầu tháng 12, Viện Nghiên cứu Hòa bình Stockholm (SIPRI) cho biết doanh số vũ khí và thiết bị quân sự năm 2022 của 100 công ty quốc phòng lớn nhất thế giới đạt 597 tỉ USD, giảm 3,5% so với năm 2021. Đây là lần sụt giảm đầu tiên kể từ khi SIPRI lập danh sách này vào năm 2015. Nhà nghiên cứu cấp cao tại SIPRI, Tiến sĩ Diego Lopes da Silva, cho rằng doanh số vũ khí giảm trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị cộng với chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga tại Ukraine là “điều bất ngờ”. Nó cho thấy “độ trễ” giữa nhu cầu với khả năng đáp ứng của ngành công nghiệp vũ khí.
Về nguyên nhân, báo cáo của SIPRI cho biết chủ yếu là do các tập đoàn lớn đang hụt hơi trước tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng và thiếu hụt lao động sau đại dịch COVID-19, đặc biệt những nhà thầu quốc phòng Mỹ vốn dễ tổn thương khi nhiều hệ thống vũ khí mà họ sản xuất ngày càng phức tạp. Được biết, doanh số vũ khí của 42 công ty Mỹ trong danh sách SIPRI (chiếm 51% tổng doanh số toàn cầu) đạt 302 tỉ USD, giảm 7,9%. Ngược lại, những nhà sản xuất khác tại khu vực Trung Đông, châu Á và châu Đại Dương đáp ứng được nhu cầu tăng cao vì hệ thống vũ khí của họ ít tinh vi hơn. Cụ thể, Trung Đông chứng kiến mức tăng doanh số lớn nhất xét theo tỷ lệ phần trăm (11%), đạt 17,9 tỉ USD. Tổng doanh thu của 22 hãng chế tạo vũ khí tại châu Á và châu Đại Dương cũng tăng 3,1%, đạt 134 tỉ USD.
Tầm quan trọng của tốc độ sản xuất vũ khí
Trong lịch sử, duy trì một cuộc chiến ngoài đòi hỏi đào tạo nhân lực thì còn dựa vào quy trình sản xuất thiết bị quân sự. Điều này không thay đổi trong xung đột hiện đại, lấy ví dụ cuộc chiến giữa Nga - Ukraine và giao tranh Israel với phong trào vũ trang Hamas ở Dải Gaza. Dựa vào nhu cầu sử dụng và số lượng phương tiện quân sự bị thiệt hại giữa các bên, giới quan sát lưu ý chênh lệch giữa tỷ lệ tiêu hao vũ khí và năng lực sản xuất trong chiến tranh đương đại lớn hơn đáng kể so với ước tính của các nhà hoạch định quân sự. Điều này được chứng minh qua thực tế nhu cầu phương tiện quân sự của Nga đang vượt quá khả năng sản xuất trong nước, trong khi Israel bắt đầu tăng tốc độ sản xuất vũ khí.
Tình trạng tiêu hao cao đi kèm tỷ lệ sản xuất vũ khí giảm còn gây ảnh hưởng đến thị trường vũ khí cấp thấp, vốn tập trung vào các thiết bị sản xuất theo công nghệ cũ hoặc đã qua sử dụng. Được biết, Nga và Israel đều là những nước xuất khẩu vũ khí lớn với những đơn hàng hiện đại giá trị cao, nhưng họ cũng là nhà cung cấp chính trên thị trường vũ khí cấp thấp với khách hàng tiềm năng là nhóm quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Tuy nhiên, việc Mát-xcơ-va ưu tiên sản xuất vũ khí cho các hoạt động tiền tuyến kết hợp các lệnh trừng phạt của phương Tây dẫn tới những hạn chế trong các ngành công nghiệp trọng điểm đã làm giảm khả năng cung ứng của Nga trên thị trường thiết bị quân sự cao cấp lẫn thông thường.
Về phần Israel, chiến sự ở Dải Gaza trở nên phức tạp đẩy năng lực sản xuất vũ khí của nước này đến giới hạn. Israel muốn tăng tiến độ, nhưng tình trạng thiếu hụt lao động trên các lĩnh vực trọng yếu với ngành quốc phòng khiến việc này trở nên khó khăn hơn. Nhu cầu nội địa vượt xa năng lực sản xuất đang đe dọa các mục tiêu chiến lược của Tel Aviv, đồng thời ảnh hưởng vị thế của họ trên thị trường vũ khí toàn cầu.
Tác động với Mỹ và Trung Quốc
Vũ khí không chỉ mang lại chiến thắng nhờ lợi thế công nghệ mà còn nằm ở tính sẵn có. Vì vậy, tốc độ sản xuất vũ khí được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt khi giúp định hình chiến lược quân sự và hiệu quả trên chiến trường. Với ý nghĩa đó, việc Nga giảm xuất khẩu thiết bị quốc phòng và các dịch vụ liên quan đang thúc đẩy nhiều quốc gia đối tác tìm kiếm nguồn thay thế. Trong bối cảnh này, các nhà sản xuất Trung Quốc là bên có nhiều cơ hội mở rộng thị trường vì họ và Nga đều là những nhà xuất khẩu lớn trên thị trường vũ khí cấp thấp.
Lợi thế thị phần và việc Bắc Kinh không đòi hỏi các điều kiện khi giao dịch được dự báo gây ra thách thức chiến lược cho Mỹ. Các chuyên gia cho rằng Washington nên theo đuổi việc giảm chi phí sản xuất thông qua hợp tác quốc tế, hỗ trợ các nhà sản xuất vũ khí cấp thấp ở các nước đồng minh trong và ngoài NATO cũng như đối tác chiến lược để mở rộng thị phần. Ngoài ra, chính phủ và các nhà thầu nên đầu tư vào những bang có lợi thế về chi phí lao động để quy trình sản xuất vũ khí trong nước đạt tốc độ cần thiết, đảm bảo cung theo kịp cầu trong xung đột đương đại. Chính sách này còn điều chỉnh ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ theo định hướng xuất khẩu, phù hợp khả năng chi trả của đồng minh.
MAI QUYÊN (Tổng hợp)